Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/03/2013 20:52 (GMT+7)

Hiệu quả của sản phẩm khoa học là cốt lõi

Vừa qua, thông tin từ Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Nguyễn Quân cho biết thời gian tới sản phẩm khoa học công nghệ của các nhà khoa học sẽ được Nhà nước chủ động mua lại nhằm tạo động lực giúp "các nhà khoa học yên tâm làm khoa học, đảm bảo chất lượng cũng như kết quả nghiên cứu của mình". Động thái này được đánh giá là "kích cung" sản phẩm có hàm lượng chất xám cao cho xã hội. Tuy nhiên, việc kích cung này phải được điều chỉnh phù hợp nhằm tạo nên cân bằng "cung - cầu" sản phẩm khoa học cho thị trường cũng như nhu cầu xã hội.

"Kích cung" nghiên cứu khoa học, những hệ lụy

Các lý thuyết kinh tếvi mô đã chứng minh được tính "vô hình" của sự thay đổi cung - cầu trong thị trường. Trong trường hợp này, việc Nhà nước mua lại sản phẩm khoa học khiến lượng cung trong thị trường tăng lên.Như những rủi ro cơ bản nhất, chất lượng của sản phẩm khoa học lúc này đôi khi không tránh khỏi sự thiếu đảm bảo về chất lượng. Nghĩa là sẽ có một bộ phận các nhà khoa học nghiên cứu "chạy theo" nhu cầu của Nhà nước.

Tuy nhiên, suy cho cùng việc mua lại của Nhà nước không nằm ngoài mục đích phục vụ lợi ích chung của quốc gia, của toàn dân. Như vậy, việc Nhà nước đứng ra "mua hộ" sản phẩm khoa học cho toàn dân sẽ gặp nhiều khó khăn. Điều này xuất phát từ ba lý do: Một là Nhà nước mà đại diện là Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ khó có thể "một tay" thẩm định hết chất lượng, tính ứng dụng và tính thực tiễn của sản phẩm khoa học. Điều này dễ khiến "mua nhầm" hoặc "bỏ nhầm" các sản phẩm khoa học khiến lợi ích chung bịảnh hưởng. Cụ thể, nếu "mua nhầm", nghĩa là mua sản phẩm không đảm bảo về chất lượng hoặc tính thực tiễn, sản phẩm khoa học không cách nào khác là để "cất vào kho" gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước. Hoặc giả "bỏ nhầm", nghĩa là bỏ qua các sản phẩm có chất lượng và giá trị thực tiễn cao (do thẩm định, khảo sát sai) sẽ gây lãng phí lượng chất xám lớn, bỏ mất cơ hội tận dụng lợi ích từ sản phẩm. Hai là, việc mua sản phẩm khoa học mà chưa xác định được người dùng hoặc không có ý kiến của người dùng (cá nhân hay tổ chức) bị xem là "mò kim đáy bể". Nghĩa là "ông mua, bà dùng". Điều này rất khó mang lại lợi ích thực tiễn cao của sản phẩm khoa học cho công cuộc chung. Ba là, việc nghiên cứu và cho ra đời sản phẩm khoa học tại Việt Nam hiện nay đôi khi vẫn còn phụ thuộc vào cơ chế tài chính.Chính sự ràng buộc về tài chính khiến các nhà khoa học khó khăn, thậm chí là gián đoạn trong nghiên cứu. Thế nên, việc thu mua lại các sản phẩm khoa học sẽ càng khiến các nhà khoa học mất đi sự tự do trong nghiên cứu (do phải theo nhu cầu của Nhà nước).

Như vậy, rõ ràng hiện nay vẫn tồn tại nhiều khó khăn trong việc tận dụng, thu hút sản phẩm chất lượng cao ở Việt Nam. Thực trạng thiếu kinh phí, thiếu cơ sở hạ tầng hay phương tiện nghiên cứu khiến nhà khoa học gặp rất nhiều khó khăn trong công việc nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, các cá nhân hay doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn khi nguồn quỹ họ dành cho nghiên cứu khoa học theo quy định của Nhà nước hầu như khó sử dụng theo nhu cầu của họ. Điều này thể hiện rõ khi Nghị quyết Đảng hướng đến huy động nguồn đầu tư của toàn xã hội, đặc biệt từ doanh nghiệp cho khoa học công nghệ.

Thế nên các doanh nghiệp phải dành ra 75% kinh phí của họ và 25% kinh phí Nhà nước hỗ trợ thông qua việc ưu đãi thuế. Tuy nhiên 100% nguồn quỹ này được xem là ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp hay cá nhân nếu có nhu cầu sử dụng sản phẩm khoa học cũng rất khó chủ động. Như vậy thực tế hiện nay, nguồn cung và cả nguồn cầu sản phẩm khoa học đang phụ thuộc vào tài chính. Như vậy, câu hỏi đặt ra rằng tại sao Nhà nước không để cho nguồn cung và nguồn cầu chủ động "gặp nhau" thông qua một cơ chế chung do Nhà nước quản lý và điều phối? Nghĩa là người có tiền được tự do sử dụng mua sản phẩm khoa học, nhà khoa học được tự do nghiên cứu từ người tiêu dùng trực tiếp.

Mô hình "hợp tác xã khoa học"

Vậy làm sao để "cung" và "cầu" có thể "tự do hóa"? Nhiều chuyên gia đã lấy mô hình "hợp tác xã khoa học" như một đề xuất hữu hiệu nhằm trả lời cho câu hỏi vừa nêu. "Hợp tác xã" là một thuật ngữ không lạ gì đối với Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp những năm 1960 ở miền Bắc và những năm sau 1975 trên toàn quốc. Hiểu một cách đơn giản, các chuyên gia muốn đưa mô hình theo cơ chế "làm chung ăn chung" của một tổ chức do "tập thể quản lý, cá nhân chịu trách nhiệm" trong nông nghiệp trước đây vào áp dụng trong việc nghiên cứu, sản xuất sản phẩm khoa học.

Dễ dàng hình dung ra mô hình này, khi các nhà khoa học sẽ tập trung tại các hợp tác xã khoa học để tiến hành nghiên cứu dưới sự giám sát, tổ chức của Nhà nước, còn các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về sản phẩm khoa học có thể đến đây đặt hàng trực tiếp chứ không thông qua một bước trung gian nào. Khi này, khách hàng của các hợp tác xã không chỉ là Nhà nước mà còn là "toàn dân" - những người trực tiếp xác nhận, sử dụng, đánh giá và phản ánh chất lượng sản phẩm khoa học mà họ mua về.

Có ít nhất ba điểm sáng mà mô hình "hợp tác xã khoa học" mang lại cho hoạt động "cung - cầu" sản phẩm khoa học. Thứ nhất, nhà nghiên cứu tự do hơn trong nghiên cứu do hợp tác xã đảm bảo được nguồn quỹchung hoạt động. Điều này rất quan trọng bởi khi yếu tố "cơm áo gạo tiền" không còn tác động, thì chất lượng nghiên cứu của công trình khoa học sẽ dễ dàng được đảm bảo thông qua quá trình nghiên cứu thông suốt không bị gián đoạn, cơ sở và phương tiện tập trung nên đảm bảo được nhu cầu chung cho từng cá nhân.

Thứ hai, người mua được tự do đặt hàng các sản phẩm mà "mình cần" chứ không phải do một tổ chức thứ ba "mua hộ". Điều này không chỉ làm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước khi Bộ Khoa học và Công nghệ không phải đau đầu kiểm định chất lượng quá nhiều sản phẩm khoa học cũng như triển khai, kiểm tra tính thực tiễn của sản phẩm. Hơn thế nữa, nhu cầu của người mua sản phẩm khoa học cũng được đáp ứng nhanh chóng, cụ thể, rõ ràng do không thông qua bất kỳ một yếu tố trung gian nào. Bên cạnh đó, với sự khó khăn về kinh tế trong giai đoạn hiện nay, "hợp tác xã khoa học" còn giúp các doanh nghiệp, cá nhân chủ động "làm ít ăn ít, làm nhiều ăn nhiều" khi trích tiền để mua sản phẩm khoa học phục vụ cho việc sản xuất.

Thứ ba, lợi ích chung của quốc gia - dân tộc được đảm bảo do sự cân bằng của thị trường sản phẩm khoa học. Nghĩa là các nhu cầu về khoa học nhằm thúc đẩy quá trình hiện đại hóa đất nước cũng được đảm bảo về mặt chất lượng, lẫn đảm bảo tính thời gian.Điều này xuất phát từ việc "mua đúng sản phẩm, dùng đúng tình hình". Đây là nền tảng cơ bản giúp thu hút đầu tư, nhanh chóng chuyển giao khoa học và phát triển công nghệ.

Một bài học "kích cung" tương tự từng diễn ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 vừa qua. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra vào cuối năm 2008 và đến năm 2009 Chính phủ Việt Nam tung ra gói kích cầu. Theo đó, tổng số gói kích cầu bao gồm các khoản hỗ trợ lãi suất (4%), các khoản ứng vốn, chuyển vốn, bổ sung trái phiếu chính phủ, miễn giảm thuế, bảo lãnh tín dụng... xấp xỉ 9 tỉ USD (160.000 tỉ đồng), chiếm trên 9% GDP. Tuy nhiên, trên thực tế, gói kích cầu này được đánh giá là hiệu quả chưa cao, dường như việc sử dụng gói "kích cầu" lại rơi vào thế "kích cung". Nghĩa là, thay vì đầu tư phát triển hạ tầng, giúp doanh nghiệp bán được sản phẩm (xi măng, máy móc, công nghệ...) và người dân lao động có việc làm thì dòng tiền dường như chảy vào các lĩnh vực ngân hàng, tài chính - tín dụng, bất động sản, cứu trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất. Như vậy, hiện tượng "tồn kho" vẫn còn, hàng hóa mới tiếp tục ra đời.

Câu chuyện "kích cung" hay "kích cầu" trong gói cứu trợ 2009 tưởng chừng như xa vời với vấn đề Nhà nước mua lại sản phẩm khoa học, tuy nhiên cả hai đều có nét tương đồng: kích cung sản phẩm. Điều này dẫn đến hiện tượng "kẻ thiếu, người thừa" sản phẩm khoa học - hàng hóa. Như vậy, việc kích cầu sản phẩm khoa học nhất thiết phải song hành quá trình kích cung (thông qua hình thức hợp tác xã khoa học) nhằm đảm bảo lợi ích tối đa của sản phẩm khoa học mang lại.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.