Hen phế quản từ bệnh sinh đến trị liệu trong Đông y
Trong y học cổ truyền phương Đông, từ những y văn cổ kinh điển như “Hoàng đế - Nội kinh” thế kỷ thứ V-III trước CN đã đề cập tới một tình trạng bệnh lý: biểu hiện trên lâm sàng khó thở, khó thở từng cơm, khi thở thì gấp gáp, hơi đưa lên thì nhiều, hơi đưa xuống thì ít và được gọi là suyễn, với đặc điểm nữa là khi thở còn phát ra tiếng cò cử ở trong cổ họng. Tình trạng bệnh lý này thường đi cùng với nhau và được gọi dưới một tên chung là háo suyễn. Háo suyễn với những biểu hiện lâm sàng rất gần với hen phế quản của y học hiện đại.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của chứng háo suyễn dưới góc độ của Đông y đã được nhiều y giả đời xưa bàn đến qua các y văn của mình.
Sách “Thánh tế phương” từ thế kỷ XII-XIII có ghi lại: “thở ra là theo dương mà ra nên khí đưa lên. Thở vào là theo âm mà vào nên khí giáng xuống. Một lần lên, một lần xuống thì âm dương điều hoà. Khi bị bệnh sẽ làm khí nghịch lên, không giáng xuống được mà sinh ra háo suyễn”.
Lưu Hà Gian - một danh y Trung Quốc trong tác phẩm “Hà gian lục thư” đã viết” “Lấy sự tương đối của âm dương mà nói, giữa hình và khí thì hình là âm, khí là dương. Giữa hàn và nhiệt thì hàn là âm, nhiệt là dương. Giữa thăng và giáng thì thăng là dương, giáng là âm. Trong háo suyễn có sự rối loạn cân bằng âm dương - rối loạn thăng giáng khí”.
Theo Chu Đan Khê: “Háo suyễn chủ yếu là do đàm”.
Từ những đàm luận trong các y văn của y học cổ truyền với thực tế lâm sàng, người đã khái quát lại nguyên nhân phát sinh ra chứng háo suyễn có 3 mặt chủ yếu:
Ngoại tà xâm nhập:thường do thời tiết khí hậu trái thường, lục khí sẽ biến thành lục dâm, xâm nhập vào cơ thể mà gây bệnh. Trong đó, những yếu tố ngoại tà đưa đến chứng háo suyễn hay gặp nhất là phong hàn thấp và phong nhiệt thấp. Điều này đã nói rõ những bệnh nhân mắc bệnh này rất nhạy cảm với sự thay đổi thời tiết khí hậu, nó thường là những nguyên nhân khởi phát hay làm bùng nổ những cơn cấp trong chứng háo suyễn.
Đàm trọc bên trong:đàm là một sản phẩm bệnh lý được hình thành bởi rối loạn chuyển hoá tân dịch bên trong cơ thể đưa đến. Trong 2 loại đàm hữu hình và vô hình thì đàm trong chứng háo suyễn thuộc loại đàm hữu hình. Đàm hữu hình ta thấy nó dưới dạng nhầy, đục, đặc, do nôn, do khạc ra hay nghe thấy tiếng lọc xọc trong cổ, trong ngực khi ho, khi thở... Nguồn gốc của đàm là do tỳ hư mất đi sự kiện vận, tích thấp sinh đàm, dần dần tích luỹ từ trung tiêu mà đưa lên phế, làm phế trướng mãn và phế khí không tuyên thông, khó hạ giáng, làm hô hấp bị trở ngại mà phát thành suyễn.
Phế thận hư nhược:do chức năng chủ yếu của tạng phế là chủ khí và điều hành hô hấp, cho nên trong Hoàng đế - Nội kinh có nói “hễ là khí cấp - suyễn thở các bệnh chứng thuộc khí phận, ngực, tức đều thuộc phế”. Hô hấp bình thường ngoài dựa vào phế khí túc giáng ra, còn yêu cầu quyền nhiếp nạp của tạng thận. Thận chủ nạp khí, thận có tác dụng hỗ trợ phế khí hít khí và giáng khí. Một khi nguyên khí của thận bị tổn thương, khí mất đi sự nhiếp nạp, thì thở vào không về tới gốc, khí nghịch dồn lên mà thành suyễn. Trong “chứng trị chuẩn thằng” đã nói: “chân nguyên hao tổn, suyễn sinh ra do thận khí dồn lên trên”. Biện chứng háo suyễn đầu tiên cần phải phân biệt rõ về hư - thực. Trong “Cảnh Nhạc toàn thư” đã chỉ rõ: “Thực suyễn có tà, tà khí thực. Hư suyễn vô tà, nguyên khí hư”. Nhìn dưới góc độ lầm sàng mà nói: thực chứng là chỉ bệnh tương đối ngắn, khó thở, tiếng thở thô, nghe có tiếng đờm lọc xọc. Trị thực chứng cần phải theo pháp điều trị là: định suyễn, giáng khí, hoá đàm với sự quan tâm của hai tạng phế-tỳ. Hư chứng bệnh bắt đầu tương đối hoãn, quá trình bệnh tương đối dài, người bệnh khó thở thường xuyên, khi vận động thì khó thở tăng lên. Trị thể hư chứng chủ yếu lấy bồi bổ nhiếp nạp ở hai tạng phế-thận.
Trong ứng dụng điều trị cụ thể trên lâm sàng về thực chứng người ta phân ra:
Thể phong hàn phạm phế với biểu hiện:
- Triệu chứng lâm sàng: khó thở cấp, tức ngực, kèm theo có ho, khạc ra đờm loãng trắng. Thời kỳ đầu thường có sợ lạnh, đau đầu, đau mình mẩy, không có mồ hôi, miệng không khát, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù.
- Pháp điều trị: tán hàn, tuyên phế, bình suyễn.
- Bài thuốc cổ phương điều trị: “Tam ao thang gia vị”.
Thể phong nhiệt phạm Phế:
- Triệu chứng lâm sàng: khó thở, tiếng thở thô, thậm chí cánh mũi phập phồng, ho đờm vàng dính, miệng khát, thích uống nước mát, ngực tức phiền táo, ra mồ hôi. Trường hợp nặng có thể sốt, mặt đỏ, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.
- Pháp điều trị: tuyên phế, tiết nhiệt, định suyễn.
- Bài thuốc cổ phương điều trị: “Ma hạnh thạch cam thang” gia giảm.
Thể đàm trọc ảnh hưởng tới Phế:
- Triệu chứng lâm sàng: khó thở, ho đờm nhiều và dính, khó khạc, thậm chí trong họng đờm lọc xọc, trong ngực đầy tức, nôn mửa, kém ăn, miệng nhạt, chất lưỡi trắng nhờn, mạch hoạt.
Trong điều trị bằng y học cổ truyền đối với chứng háo suyễn có 2 phương pháp: dùng thuốc và không dùng thuốc.
- Điều trị chứng háo suyễn không dùng thuốc: là dùng các phương pháp như luyện trường sinh - khí công, xoa bóp, day bấm huyệt và châm cứu.
Điều trị chứng háo suyễn bằng thuốc: có rất nhiều phương thuốc từ cổ phương, nghiệm phương tới các bài thuốc, vị thuốc lưu truyền trong dân gian.
Dù chọn lựa phương thức điều trị nào, cũng cần phải dựa trên những nguyên lý trị liệu cơ bản của Đông y, đó là:
- Pháp điều trị: trừ đàm, giáng khí, bình suyễn.
- Bài thuốc cổ phương điều trị “Nhị trần thang” hợp với “Tam ao thang” gia vị.
Trong chứng háo suyễn, hư chứng cũng chia ra làm 2 thể:
Thể phế hư:
- Triệu chứng lâm sàng: người bệnh khó thở cấp, khí đoản, nói nhỏ yếu, tiếng ho yếu, tự ra mồ hôi, sợ gió, trong họng có cảm giác khó chịu, miệng khô, mặt đỏ, chất lưỡi thiên về đỏ, mạch nhu hoãn.
- Pháp điều trị: dưỡng phế, định suyễn.
- Bài thuốc cổ phương điều trị: “Sinh mạch tán” gia vị.
Thể thận hư:
- Triệu chứng lâm sàng: khó thở lâu ngày, thở ra dài, hít vào ngắn, vận động thì khó thở tăng lên, người gầy, tinh thần mỏi mệt, thở hay bị đứt đoạn, ra mồ hôi, tay chân lạnh, mặt xanh nhợt, tay chân có thể bị phù, tiểu tiện ít, tâm phiền bất an, chất lưỡi nhợt, mạch trầm tế.
- Pháp điều trị: bổ thận nạp khí.
- Bài thuốc cổ phương điều trị: “thận khí hoàn” là chủ trương.
Chứng háo suyễn trong Đông y được biểu hiện trên lâm sàng dưới dạng nhiều bệnh cảnh phức tạp, các triệu chứng của các thể lâm sàng nhiều khi được đan xen và lồng ghép vào nhau. Vì vậy, đòi hỏi người thầy thuốc lâm sàng phải vận dụng triệt để Tứ chẩn để quy nạp bát cương, biện chứng nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh thật logic mới đề ra được phương pháp điều trị phù hợp, chọn lọc các phương thức điều trị đúng trên cơ sở các bài thuốc và các vị thuốc có cân nhắc kỹ càng mới có thể đạt hiệu quả trong trị liệu chứng bệnh này.
Nguồn: T/c Đông y, số 328, 25/8/2001, tr 22








