Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 31/12/2008 00:49 (GMT+7)

Hậu dịch “tai xanh” - ai lo?

Năm nào cũng dịch

Dấu ấn quan trọng của dịch bệnh hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do vius PRRS gây ra (còn gọi là bệnh tai xanh) bùng nổ ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 12/3/2007 với hàng loạt các đàn lợn ở Hải Dương có dấu hiệu bất thường. Do lần đầu tiên dịch PRRS xuất hiện tại Việt Nam và do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm, dịch PRRS đã lây lan và phát triển mạnh tại 6 tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng với tổng lợn mắc bệnh là 31.750 con trong đợt 1. Sau 3 tháng, đợt 2 bắt đầu bùng nổ vào ngày 25/6/2007 ở một số tỉnh miền Trung và miền Nam với tổng số lợn mắc bệnh là 33.839 con.

Năm 2007 trôi qua nặng nề với 2 đợt dịch PRRS (chưa kể dịch lở mồm long móng), ngành chăn nuôi lợn chưa nguôi ngoai thì mới đầu năm 2008, ngày 28/3/2008 dịch PRRS bùng nổ ở Hà Tĩnh và bùng phát dữ dội ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam... với tổng số lợn mắc bệnh hiện lên tới 200 nghìn con.

Chỉ vỏn vẹn gần một tháng, dịch lan nhanh ra gần 660 phường, xã, thuộc 50 huyện, thị xã của mười tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Lâm Đồng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thái Nguyên; làm hơn 230 nghìn con lợn mắc bệnh, ốm chết, buộc phải tiêu hủy. So với hai đợt dịch tai xanh (năm 2007), đợt dịch này bùng phát mạnh hơn, cả bề rộng (địa bàn) và bề sâu (số lượng lợn nhiễm bệnh). Thanh Hóa là tỉnh bị thiệt hại nặng nhất (trong đó xã Xuân Phong, huyện Thọ Xuân thiệt hại nặng nề nhất với số lợn chết đến 3/4 tổng số đàn trong xã), theo số liệu thống kê, đến ngày 27/4/2008, dịch đã lan ra 473 phường, xã của 26 huyện, thị xã của tỉnh Thanh Hoá, với số lượng lợn nhiễm bệnh lên tới hơn 185 nghìn con, chiếm hơn 13% tổng đàn lợn của tỉnh (1,4 triệu con). Dịch cứ thế lan rộng và vượt ra ngoài tầm kiểm soát của địa phương...

Hai năm liên tiếp, năm nào cũng dịch, năm sau dịch dữ dội hơn năm trước. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp chống dịch nhưng giải quyết nhiều vấn đề hậu dịch thì không chỉ có trách nhiệm và nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và PTNT.

Nhức nhối những vấn đề hậu dịch PRRS

Thiện hại nặng về kinh tế

Vấn đề đầu tiên phải kể đến là dịch bệnh là nỗi kinh hoàng cho người chăn nuôi vì nó gây thiệt hại kinh tế trực tiếp và lâu dài. Có thể nói con lợn là “đầu cơ nghiệp” của đa số hộ chăn nuôi nước ta với thị phần thịt lợn luôn chiếm trên 70% thị trường thịt trong nước. Đầu tư chăn nuôi lợn thường không nhỏ với đa số hộ chăn nuôi vì yêu cầu chuồng trại, giá giống đắt và đặc biệt giá thức ăn liên tục tăng cao trong những năm gần đây. Đùng một cái, dịch ập đến, cướp đi tất cả công sức, vốn liếng (trong đó lượng vốn vay ngân hàng không nhỏ) của nông dân. Ví dụ, người chăn nuôi lợn ở xã Xuân Phong, Thọ Xuân, Thanh Hóa tới 95% hộ chăn nuôi trong xã đều vay vốn ngân hàng đầu tư chăn nuôi lợn. Mọi vấn đề sinh hoạt, con cái học hành... đều nhờ chăn nuôi lợn. Bây giờ lợn chết dịch, nợ ngân hàng thì lãi mẹ đẻ lãi con, rồi tới đây, không biết sẽ phải xoay xở thế nào? Dù nhà nước có hỗ trợ tích cực cũng bù đắp sao đủ những thiệt hại gây nguy cơ bần cùng hóa cho người chăn nuôi.

Người chăn nuôi nào trong vùng dịch có may mắn giữ được đàn lợn thì cũng chẳng sung sướng gì vì vẫn phải tiếp tục vay mượn để nuôi cầm cự, “báo cô” đàn lợn đến lúc xuất chuồng mà chẳng xuất nổi do “nội bất xuất, ngoại bất nhập” của nguyên tắc cách ly vùng dịch.

“Xa xôi” khả năng tái sản xuất

Nợ cũ chưa kịp trả do dịch bệnh cướp mất, nay nông dân muốn tiếp tục đầu tư thì vay ai? Nợ nần kế tiếp, ai sẽ cùng nông dân gánh chịu? Việc triển khai xã hội hóa công tác giống còn yếu và chưa đồng đều trên toàn quốc trong khi khả năng cung ứng giống của các Trạm giống nhà nước cũng còn hạn chế nên tình trạng khan hiếm giống, giống đắt ắt sẽ xảy ra và ai sẽ chịu chia sẻ với nông dân? Những thời gian bắt buộc phải để trống chuồng sau dịch (ít nhất là 3 tháng), nông dân sẽ sống thế nào khi tất cả sinh hoạt của họ đều dựa vào thu nhập từ chăn nuôi lợn? Chưa kể nỗi lo phập phồng nếu có đầu tư trở lại được thì ai dám đảm bảo cho họ rằng dịch bệnh đã hết rình rập để cướp đi cái “đầu cơ nghiệp” của họ?

Chưa kể đến tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi đặt ra là 7 – 8% năm khó có thể đạt được mà hàng loạt các vấn đề như việc làm cho người dân nông thôn, nguy cơ di dân ra thành phố, giảm sức thu hút đầu tư vào chăn nuôi, nâng cao giá thực phẩm, giảm sự lựa chọn cho người tiêu dùng, giảm khả năng cạnh tranh sản xuất,… cũng đều là những câu hỏi lớn mà lời giải đáp còn rất mờ nhạt.

Trả giá đắt cho môi trường

Ai sẽ là người trả phí ô nhiễm môi trường do tiêu huỷ lợn không đúng quy cách và quy trình?

Những hố chôn lợn nông choèn, hóa chất sát trùng, vật liệu lót hố... không đảm bảo chất lượng là phổ biến khắp các vùng dịch. Trong khi lượng lợn phải tiêu hủy rất lớn trong một thời gian ngắn. Ví dụ có ngày xã Xuân Phong phải tiêu hủy tới 22 tấn lợn (6/4/2008). Tính đến ngày 24/4/2008, xã này đã tiêu hủy gần 2.300 con lợn, tương đường với gần 130 tấn lợn hơi. Các hố chôn đều đào bới vội vàng, không đúng quy trình và hậu quả là hầu hết các hố đều sình, nứt, mùi hôi thối nặng nề, ruồi nhặng bay như trấu vãi và giòi bọ kín đặc mặt hố. Đấy mới chỉ là hậu quả ban đầu, còn hậu quả nặng nề hơn sau này thì đất ô nhiễm do bị phì dưỡng, do thay đổi thành phần cơ giới, nhiễm các loại nấm và vi khuẩn độc hại... gây nguy cơ khó có thể sử dụng sản xuất, kể cả chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp. Chất lượng nước ngầm ô nhiễm nặng nề do đất ô nhiễm, do rò rỉ nước thải của xác lợn thối rữa. Nước ngầm ô nhiễm thì cứ chảy, cứ lan... Ai là người chịu trách nhiệm về chất lượng môi trường? về sức khỏe của người dân trong vùng dịch và vùng lân cận? về khả năng tái sử dụng tài nguyên đất, nước sau này?

Ai sẽ lo hậu dịch “tai xanh”?

Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã và đang tích cực chỉ đạo chăn nuôi an toàn sinh học, hướng dẫn tiêu hủy, phòng chống dịch... nhưng như đã nói, những vấn đề như an cư, tái sản xuất và trả phí ô nhiễm môi trường thì không chỉ là trách nhiệm của một mình Bộ Nông nghiệp và PTNT và mặt khác thì hậu quả dịch bệnh không chỉ mình nông dân gánh chịu. Những hậu quả về môi trường, kinh tế, xã hội còn lâu dài và ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong xã hội. Vì thế, trách nhiệm nên thuộc về tất cả chúng ta.

Nên chăng, tích cực xã hội hóa và đầu tư mạnh cho công tác phòng dịch (tuyên truyền, xây dựng mô hình điểm và nhân rộng, hỗ trợ hóa chất sát trùng, vacxin, hướng dẫn chi tiết quy trình chăn nuôi an toàn, kiến thức phòng dịch, bảo vệ môi trường trong chăn nuôi...).

Cần có những chế tài thu hút đầu tư bảo hiểm cho ngành chăn nuôi lợn.

Phát triển hệ thống khuyến nông viên thú y cấp thôn, bản (hiện rất thiếu và thường 1 người phụ trách chung cả chăn nuôi và thú y).

Có kinh phí xử lý sự cố môi trường ở các vùng dịch từ nhiều bộ ngành như Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế...

Có chế tài thu hút sự tham gia của các công ty, doanh nghiệp kinh doanh giống, thức ăn chăn nuôi với những rủi ro trong chăn nuôi cho người chăn nuôi, ví dụ có ưu đãi trong vay vốn, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu... cho những công ty, doanh nghiệp có đăng ký, thực hiện chế độ hỗ trợ, cho vay (vốn hoặc vật tư) khi khách hàng (người chăn nuôi) gặp rủi ro lớn hoặc bất khả kháng trong chăn nuôi (dịch bệnh, thiên tai)…

Ưu đãi đặc biệt trong vay vốn đối với nông dân bị thiệt hại ở các mức khác nhau trong vùng dịch.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Vĩnh Long: Tôn vinh 88 trí thức tiêu biểu năm 2025
Sáng ngày 13/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW” gắn với lễ Vinh danh trí thức tiêu biểu năm 2025. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5.
Đắk Lắk: Hệ thống quản lý thư viện - văn thư tích hợp trí tuệ nhân tạo SmartLibDoc.AI
Đây là giải pháp đoạt giải Nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (khu vực phía Tây) giai đoạn 2024-2025. Giải pháp khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, xây dựng một cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, tránh nhập liệu trùng lặp, dễ dàng tổng hợp báo cáo liên ngành; Giải quyết bất cập trong mượn - trả thủ công, thay bằng quản lý tự động, có nhắc hạn trả, có thống kê chính xác…
Sơn La: Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày 12/5, tại Xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La, Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng, Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Ngọc Chiến phối hợp tổ chức Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) và Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5).
Tuyên Quang: Hội thảo Bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết
Chiều 12/5, tại khách sạn Mường Thanh, tỉnh Tuyên Quang, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo khoa học: “Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện, sinh kế cộng đồng địa phương tỉnh Tuyên Quang”.
Hải Phòng: Hội nghị thông tin chuyên đề về tình hình đối ngoại của Việt Nam
Sáng 09/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức Hội nghị thông tin chuyên đề “Một số tình hình liên quan tới đối ngoại trong thời gian qua”, thu hút sự quan tâm tham dự của đông đảo lãnh đạo, hội viên các Hội thành viên, Trung tâm, Câu lạc bộ, Viện trực thuộc và các tổ chức thành viên Liên hiệp hội.