Hậu dịch “tai xanh” - ai lo?
Năm nào cũng dịch
Dấu ấn quan trọng của dịch bệnh hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn do vius PRRS gây ra (còn gọi là bệnh tai xanh) bùng nổ ở Việt Nam bắt đầu vào ngày 12/3/2007 với hàng loạt các đàn lợn ở Hải Dương có dấu hiệu bất thường. Do lần đầu tiên dịch PRRS xuất hiện tại Việt Nam và do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm, dịch PRRS đã lây lan và phát triển mạnh tại 6 tỉnh khác thuộc đồng bằng sông Hồng với tổng lợn mắc bệnh là 31.750 con trong đợt 1. Sau 3 tháng, đợt 2 bắt đầu bùng nổ vào ngày 25/6/2007 ở một số tỉnh miền Trung và miền Nam với tổng số lợn mắc bệnh là 33.839 con.
Năm 2007 trôi qua nặng nề với 2 đợt dịch PRRS (chưa kể dịch lở mồm long móng), ngành chăn nuôi lợn chưa nguôi ngoai thì mới đầu năm 2008, ngày 28/3/2008 dịch PRRS bùng nổ ở Hà Tĩnh và bùng phát dữ dội ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam... với tổng số lợn mắc bệnh hiện lên tới 200 nghìn con.
Chỉ vỏn vẹn gần một tháng, dịch lan nhanh ra gần 660 phường, xã, thuộc 50 huyện, thị xã của mười tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế, Lâm Đồng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình và Thái Nguyên; làm hơn 230 nghìn con lợn mắc bệnh, ốm chết, buộc phải tiêu hủy. So với hai đợt dịch tai xanh (năm 2007), đợt dịch này bùng phát mạnh hơn, cả bề rộng (địa bàn) và bề sâu (số lượng lợn nhiễm bệnh). Thanh Hóa là tỉnh bị thiệt hại nặng nhất (trong đó xã Xuân Phong, huyện Thọ Xuân thiệt hại nặng nề nhất với số lợn chết đến 3/4 tổng số đàn trong xã), theo số liệu thống kê, đến ngày 27/4/2008, dịch đã lan ra 473 phường, xã của 26 huyện, thị xã của tỉnh Thanh Hoá, với số lượng lợn nhiễm bệnh lên tới hơn 185 nghìn con, chiếm hơn 13% tổng đàn lợn của tỉnh (1,4 triệu con). Dịch cứ thế lan rộng và vượt ra ngoài tầm kiểm soát của địa phương...
Hai năm liên tiếp, năm nào cũng dịch, năm sau dịch dữ dội hơn năm trước. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp chống dịch nhưng giải quyết nhiều vấn đề hậu dịch thì không chỉ có trách nhiệm và nhiệm vụ của Bộ Nông nghiệp và PTNT.
Nhức nhối những vấn đề hậu dịch PRRS
Thiện hại nặng về kinh tế
Vấn đề đầu tiên phải kể đến là dịch bệnh là nỗi kinh hoàng cho người chăn nuôi vì nó gây thiệt hại kinh tế trực tiếp và lâu dài. Có thể nói con lợn là “đầu cơ nghiệp” của đa số hộ chăn nuôi nước ta với thị phần thịt lợn luôn chiếm trên 70% thị trường thịt trong nước. Đầu tư chăn nuôi lợn thường không nhỏ với đa số hộ chăn nuôi vì yêu cầu chuồng trại, giá giống đắt và đặc biệt giá thức ăn liên tục tăng cao trong những năm gần đây. Đùng một cái, dịch ập đến, cướp đi tất cả công sức, vốn liếng (trong đó lượng vốn vay ngân hàng không nhỏ) của nông dân. Ví dụ, người chăn nuôi lợn ở xã Xuân Phong, Thọ Xuân, Thanh Hóa tới 95% hộ chăn nuôi trong xã đều vay vốn ngân hàng đầu tư chăn nuôi lợn. Mọi vấn đề sinh hoạt, con cái học hành... đều nhờ chăn nuôi lợn. Bây giờ lợn chết dịch, nợ ngân hàng thì lãi mẹ đẻ lãi con, rồi tới đây, không biết sẽ phải xoay xở thế nào? Dù nhà nước có hỗ trợ tích cực cũng bù đắp sao đủ những thiệt hại gây nguy cơ bần cùng hóa cho người chăn nuôi.
Người chăn nuôi nào trong vùng dịch có may mắn giữ được đàn lợn thì cũng chẳng sung sướng gì vì vẫn phải tiếp tục vay mượn để nuôi cầm cự, “báo cô” đàn lợn đến lúc xuất chuồng mà chẳng xuất nổi do “nội bất xuất, ngoại bất nhập” của nguyên tắc cách ly vùng dịch.
“Xa xôi” khả năng tái sản xuất
Nợ cũ chưa kịp trả do dịch bệnh cướp mất, nay nông dân muốn tiếp tục đầu tư thì vay ai? Nợ nần kế tiếp, ai sẽ cùng nông dân gánh chịu? Việc triển khai xã hội hóa công tác giống còn yếu và chưa đồng đều trên toàn quốc trong khi khả năng cung ứng giống của các Trạm giống nhà nước cũng còn hạn chế nên tình trạng khan hiếm giống, giống đắt ắt sẽ xảy ra và ai sẽ chịu chia sẻ với nông dân? Những thời gian bắt buộc phải để trống chuồng sau dịch (ít nhất là 3 tháng), nông dân sẽ sống thế nào khi tất cả sinh hoạt của họ đều dựa vào thu nhập từ chăn nuôi lợn? Chưa kể nỗi lo phập phồng nếu có đầu tư trở lại được thì ai dám đảm bảo cho họ rằng dịch bệnh đã hết rình rập để cướp đi cái “đầu cơ nghiệp” của họ?
Chưa kể đến tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi đặt ra là 7 – 8% năm khó có thể đạt được mà hàng loạt các vấn đề như việc làm cho người dân nông thôn, nguy cơ di dân ra thành phố, giảm sức thu hút đầu tư vào chăn nuôi, nâng cao giá thực phẩm, giảm sự lựa chọn cho người tiêu dùng, giảm khả năng cạnh tranh sản xuất,… cũng đều là những câu hỏi lớn mà lời giải đáp còn rất mờ nhạt.
Trả giá đắt cho môi trường
Ai sẽ là người trả phí ô nhiễm môi trường do tiêu huỷ lợn không đúng quy cách và quy trình?
Những hố chôn lợn nông choèn, hóa chất sát trùng, vật liệu lót hố... không đảm bảo chất lượng là phổ biến khắp các vùng dịch. Trong khi lượng lợn phải tiêu hủy rất lớn trong một thời gian ngắn. Ví dụ có ngày xã Xuân Phong phải tiêu hủy tới 22 tấn lợn (6/4/2008). Tính đến ngày 24/4/2008, xã này đã tiêu hủy gần 2.300 con lợn, tương đường với gần 130 tấn lợn hơi. Các hố chôn đều đào bới vội vàng, không đúng quy trình và hậu quả là hầu hết các hố đều sình, nứt, mùi hôi thối nặng nề, ruồi nhặng bay như trấu vãi và giòi bọ kín đặc mặt hố. Đấy mới chỉ là hậu quả ban đầu, còn hậu quả nặng nề hơn sau này thì đất ô nhiễm do bị phì dưỡng, do thay đổi thành phần cơ giới, nhiễm các loại nấm và vi khuẩn độc hại... gây nguy cơ khó có thể sử dụng sản xuất, kể cả chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp. Chất lượng nước ngầm ô nhiễm nặng nề do đất ô nhiễm, do rò rỉ nước thải của xác lợn thối rữa. Nước ngầm ô nhiễm thì cứ chảy, cứ lan... Ai là người chịu trách nhiệm về chất lượng môi trường? về sức khỏe của người dân trong vùng dịch và vùng lân cận? về khả năng tái sử dụng tài nguyên đất, nước sau này?
Ai sẽ lo hậu dịch “tai xanh”?
Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã và đang tích cực chỉ đạo chăn nuôi an toàn sinh học, hướng dẫn tiêu hủy, phòng chống dịch... nhưng như đã nói, những vấn đề như an cư, tái sản xuất và trả phí ô nhiễm môi trường thì không chỉ là trách nhiệm của một mình Bộ Nông nghiệp và PTNT và mặt khác thì hậu quả dịch bệnh không chỉ mình nông dân gánh chịu. Những hậu quả về môi trường, kinh tế, xã hội còn lâu dài và ảnh hưởng đến tất cả mọi người trong xã hội. Vì thế, trách nhiệm nên thuộc về tất cả chúng ta.
Nên chăng, tích cực xã hội hóa và đầu tư mạnh cho công tác phòng dịch (tuyên truyền, xây dựng mô hình điểm và nhân rộng, hỗ trợ hóa chất sát trùng, vacxin, hướng dẫn chi tiết quy trình chăn nuôi an toàn, kiến thức phòng dịch, bảo vệ môi trường trong chăn nuôi...).
Cần có những chế tài thu hút đầu tư bảo hiểm cho ngành chăn nuôi lợn.
Phát triển hệ thống khuyến nông viên thú y cấp thôn, bản (hiện rất thiếu và thường 1 người phụ trách chung cả chăn nuôi và thú y).
Có kinh phí xử lý sự cố môi trường ở các vùng dịch từ nhiều bộ ngành như Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Y tế...
Có chế tài thu hút sự tham gia của các công ty, doanh nghiệp kinh doanh giống, thức ăn chăn nuôi với những rủi ro trong chăn nuôi cho người chăn nuôi, ví dụ có ưu đãi trong vay vốn, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu... cho những công ty, doanh nghiệp có đăng ký, thực hiện chế độ hỗ trợ, cho vay (vốn hoặc vật tư) khi khách hàng (người chăn nuôi) gặp rủi ro lớn hoặc bất khả kháng trong chăn nuôi (dịch bệnh, thiên tai)…
Ưu đãi đặc biệt trong vay vốn đối với nông dân bị thiệt hại ở các mức khác nhau trong vùng dịch.








