GS Võ Tòng Xuân: Loại bỏ kiểu làm ăn “tự phát”
- Thưa ông, ông có nhận xét gì về những chiến lược và hoạt động của ĐBSCL trong những năm gần đây?
Mặc dù có qui hoạch, kế hoạch từ Trung ương đến cấp huyện, được đề cập trong các văn kiện Đại hội Đảng các cấp song ĐBSCL chủ yếu vẫn làm ăn theo kiểu tự phát là chính. Họ muốn trồng cây gì thì trồng, nuôi con gì thì nuôi; trồng rồi chặt, chặt rồi trồng, chính quyền ít can thiệp được. Hiện trạng này dẫn đến những tác hại về kế hoạch sản xuất, tác hại môi trường, đưa đến nhiều rủi ro mà cuối cùng chính nông dân là người phải chịu những hậu quả. Do vậy, tuy ĐBSCL sản xuất để xuất khẩu trên 90% lượng gạo cho quốc tế, gạo Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu mạnh vì bị liệt vào loại thấp, chất lượng không ổn định; cá tôm cũng vậy.
- Theo ông, đâu là những hạn chế, vướng mắc chính cần phải khắc phục để ĐBSCL có thể đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa, đặc biệt là hiện đại hóa trong nông nghiệp?
Hạn chế lớn nhất của ĐBSCL về phát triển nông nghiệp hiện nay chưa có cơ chế hợp lý. Dường như, nông dân đang lệ thuộc vào các thương lái, từ thương lái làng xã lên đến thương lái cấp tỉnh và cấp Trung ương. Không doanh nghiệp nào chịu lập vùng nguyên liệu của mình để cho nông dân tham gia một cách chủ động. Như vậy, muốn phát huy những thế mạnh của ĐBSCL để nông dân có thể làm giàu trên mảnh đất của chính mình, cần phải được tính toán cụ thể trong một khung chính sách thuận lợi với một nguyên tắc chung là sản xuất phải gắn liền với đầu ra. Trước tiên, nông dân cần từ bỏ làm ăn kiểu tự phát, mạnh ai nấy làm, còn các doanh nghiệp đầu ra cần bỏ hẳn làm ăn kiểu mua hàng trôi nổi, mua đứt bán đoạn. Nông dân cần học kỹ thuật tiên tiến GAP, kết hợp với nhau trong những HTX nông nghiệp hoặc Công ty cổ phần nông nghiệp, và gắn với doanh nghiệp có đầu ra. Có thể phải giảm diện tích lúa Đông Xuân lại, tăng diện tích tôm và thủy hải sản nước lợ và mặn. Vùng có nguy cơ nhiễm mặn, nên áp dụng hệ thống lúa tôm, cần sử dụng giống lúa năng suất cao dưới 100 ngày, sau đó nuôi tôm. Vùng ngọt không ngập sâu, nên chuyển vụ Hè Thu sang Thu Đông với các giống lúa chất lượng cao trung mùa, rồi trồng màu giá trị cao trong vụ Đông Xuân. Các vùng cây ăn trái nên củng cố đê bao giữ ngọt, dần chuyển sang những giống độc đáo của Việt Nam như xoài Cát Hòa Lộc, bưởi Năm Roi, bưởi Da Xanh, vú sữa Lò Rèn, chôm chôm Nhãn, mít Nghệ...
Trong thời đại này, đất nước ta cần những nhà doanh nghiệp có tài kinh doanh biết phát huy những sản phẩm độc đáo của từng tiểu vùng ĐBSCL, nghiên cứu kỹ thuật chế biến thành những mặt hàng có thương hiệu, và tìm thị trường đầu ra cho các thương hiệu ấy.
Nhà nước cần tiếp tục đầu tư mạnh vào cơ sở hạ tầng, bởi theo tôi, ĐBSCL tuy có nhiều lợi thế, nhưng những lợi thế đó không được chúng ta quan tâm thỏa đáng thì nó cũng không thể nào tự phát triển lên được. Song song với nó, các tỉnh trong vùng cũng phải hợp tác để xây dựng, tất nhiên là sự hợp tác đó cũng phải dựa vào từng lợi thế riêng của từng địa phương, có nghĩa là rất cần sự linh động chứ không thể cứng nhắc.
Đồng thời, chúng ta cần đào tạo kiến thức cho các nhà kinh doanh, bởi doanh nhân phải được đào tạo bài bản để tiếp cận thị trường quốc tế và trong nước. Sau đó họ cần có trách nhiệm tổ chức phổ biến kiến thức sản xuất cho người nông dân. Doanh nghiệp ĐBSCL phải được tổ chức tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, không nên tranh mua, tranh bán theo kiểu nhỏ lẻ mà phải mua theo từng vùng chuyên canh.
Thực hiện phối hợp chặt chẽ giữa “4 nhà” (nhà nông, nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp), trong đó Nhà nước có vai trò rất lớn đến thành hay bại của người dân. Nhà nước phải định hướng sản xuất cho người dân, đừng để họ sản xuất theo thói quen truyền thống, chạy theo lợi nhuận trước mắt, cái gì có lợi thì đổ xô vào, rồi sau đó rơi vào tình trạng dư thừa, ế ẩm, thua lỗ.
Tiến hành xây dựng các khu sản xuất tập trung, các cơ sở phải gắn kết với nhau theo kiểu hiệp hội. Về khâu sản xuất, chúng ta cần phải hình thành nên các vùng chuyên canh, trong các vùng này đầy đủ cơ sở hạ tầng, như: điện, đường, thủy lợi và đặc biệt là phải có các khu chế biến, có nghĩa là phải xây dựng một vùng chuyên canh hoàn hảo.
- Nhiều nhà khoa học cho rằng, biến đổi khí hậu là một nguy cơ rất lớn, có thể sẽ “lấy” mất lợi thế của ĐBSCL. Ông có có suy nghĩ gì về nhận xét này?
Những khoa học dự báo thường được căn cứ vào những số liệu của nhiều ngành và dùng những công thức mô phỏng khác nhau, đưa đến nhiều kết quả khác nhau. Thí dụ, họ kết luận là năm 2100 ĐBSCL sẽ bị ngập 56 cm, người khác kết luận là 100 cm. Trong khi đó từ ngàn năm nay, ĐBSCL hàng năm bị ngập từ 100 đến 250 cm trong 4 tháng bắt đầu từ giữa tháng 8 đến tháng 11 dương lịch. Vì vậy chúng ta chấp nhận các dự đoán của họ nhưng với sự thận trọng. Chúng tôi đã có những hướng dẫn cho nông dân trồng lúa biết cách làm thế nào để họ giảm thiểu thải khí nhà kính vào khí quyển, nông dân chăn nuôi cũng thế, nông dân ven biển khôi phục lại rừng ngập mặn... Đồng thời các nhà khoa học cũng đang tìm kinh phí để lai tạo các giống cây trồng chịu mặn khá hơn, chịu hạn khá hơn, và chống chọi nhiều loại sâu bệnh mới của thời khí hậu nóng...
- Thưa ông, nhiều vấn đề của toàn vùng sông Mekonggần đây đang gây quan ngại cho nhiều quốc gia hạ nguồn, ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng như thế nào với những vấn đề này?
Quá trình phát triển toàn vùng Mekong từ đầu nguồn (Tây Tạng, Vân Nam, Trung Quốc) xuống đến cuối nguồn (các tỉnh ven biển ĐBSCL) đã và đang đem đến nhiều bất lợi cho ĐBSCL. Theo báo cáo của Ủy Ban sông Mekong (MRC) thì đến ngày 25-8 mực nước sông đo tại Tân Châu là 1,87 m và tại Châu Đốc là 1,47m, thấp hơn năm bình thường khoảng 0,5 m. Số liệu cập nhật trong 3 tuần qua cho thấy nước sông lên rất chậm, mấy ngày qua mực nước tại Châu Đốc có giảm đi 17 cm. Hiện tượng này có thể do thượng nguồn mưa ít và ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đang giữ nước lại, trong khi đó, lúa Tứ giác Long Xuyên-Châu Đốc cần nhiều nước. Cơn bão số 3 vừa quét qua Nghệ An, Thanh Hóa, đã đổ vào thượng Lào bằng áp thấp nhiệt đới có mưa nhiều, nhưng khối lượng nước đó đổ xuống đến ĐBSCL phải mất nhiều ngày nữa.
Có lẽ ảnh hưởng rõ nhất là các đập thủy điện trên thượng nguồn hiện nay: 4 trong số 8 đập thủy điện khổng lồ của Trung Quốc xây trong địa phận tỉnh Vân Nam . Theo báo cáo của MRC, trong 5 năm tới sẽ có thêm 8 đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong, thêm 25-26 đập nhỏ hơn trên các sông nhánh hạ nguồn ở Lào, Thái Lan, Việt Nam (Tây Nguyên) và Campuchia. Và trong vòng 20 năm tới, hệ thống sông Mekongsẽ có thêm 11 đập lớn trên dòng chính và nhiều đập nhỏ hơn trên các sông nhánh. Tất cả những công trình xây dựng này sẽ biến đổi sinh thái toàn vùng: trong khi điện năng phát triển thì các loài thủy sản, nhất là các giống cá da trơn đặc thù của sông Mekong sẽ bị tiêu diệt dần, vùng ĐBSCL sẽ liên tục bị thiếu nước ngọt và bị nước mặn xâm nhập trong mùa khô, mùa lũ thì mực nước sông sẽ khó được lường trước vì sự điều khiển của các đập lớn bên trên. Với tình hình nước sông như thế, sản xuất nông nghiệp của miền Tây - vựa lúa, vựa cá, vựa trái cây nhiệt đới của Việt Nam – nhất định sẽ bị ảnh hưởng theo chiều xấu hơn.
- Xin cảm ơn ông!








