Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 22/02/2011 18:20 (GMT+7)

GS, TS Nguyễn Thanh Liêm: "Những nụ cười trẻ thơ là hạnh phúc của tôi"

Những bước đi đầu tiên

Sinh năm 1952, ở Quảng Xương (Thanh Hóa), trong một làng quê nghèo khó, gia đình Nguyễn Thanh Liêm sống trong cảnh nghèo đói, cơ cực. Năm 16 tuổi, anh đang học lớp 10 thì mẹ bị bệnh nặng và qua đời. Hình ảnh những cơn ho 'thắt ruột', vật vã chống lại những cơn đau của mẹ đã luôn ám ảnh anh. Sau cái chết của mẹ, gia cảnh anh đã khốn khó lại càng cùng cực hơn. Mọi việc dồn lên đôi vai của người cha nuôi sáu đứa con, trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra ác liệt. Người anh trai cả đi bộ đội và hy sinh anh dũng. Nhìn cảnh người cha tần tảo sớm khuya, anh xin cha nghỉ học ở nhà làm ruộng để giúp đỡ gia đình, nhưng cha anh động viên 'con phải cố gắng học vì bản thân con và vì gia đình'. Ban ngày, anh vừa đi học vừa tranh thủ làm thêm. Ở trường, thầy giáo dạy môn văn thấy anh có năng khiếu về văn học nên đã động viên anh thi vào Trường đại học Tổng hợp. Nhưng ám ảnh về cái chết của mẹ và chứng kiến cảnh bà con xóm làng qua đời vì những căn bệnh không rõ nguyên nhân đã thôi thúc anh nộp hồ sơ thi vào Trường đại học Y Hà Nội và anh đã đỗ với số điểm cao.

Tháng 9-1970, anh ra Thủ đô học tại Trường đại học Y Hà Nội. Sau sáu năm miệt mài học tập, với thành tích xuất sắc, anh được nhà trường chọn là sinh viên học tiếp khóa đào tạo bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Ðức, chuyên ngành khoa Ngoại nhi. Năm 1979, anh ra trường với tấm bằng xuất sắc và được phân công về làm việc tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai (ngày ấy Bệnh viện Nhi trung ương chưa thành lập). Ðến năm 1969, với tên gọi là Viện Bảo vệ Sức khỏe trẻ em. Năm 1997 được đổi tên là Viện Nhi. Có thời gian, Bệnh viện mang tên Bệnh viện Nhi Việt Nam - Thụy Ðiển. Năm 2003, đổi thành Bệnh viện Nhi trung ương.

Hành trình đi tìm lời giải những ca mổ khó

Bắt đầu từ ngày ấy, cuộc đời anh gắn liền với những ca cấp cứu, những ca mổ. Có những lúc anh phải rơi nước mắt khi thấy bất lực vì trình độ phẫu thuật nhi khoa còn hạn chế. Vào những năm ấy, một số loại bệnh như teo đường ruột bẩm sinh, dị tật không hậu môn, teo thực quản, phình đại tràng bẩm sinh... ở các bệnh nhi, hay bị biến chứng sau khi mổ, tỷ lệ sống thấp. Trong khi đó ở các nước tiên tiến thì ngược lại.

Năm 1985, anh được cử sang Thụy Ðiển học nâng cao kiến thức về Ngoại nhi..., trong suốt những năm tháng học tập ở đây, anh luôn đặt câu hỏi tại sao tỷ lệ bệnh nhi chết sau mổ ở các bệnh viện có chuyên khoa nhi ở Thụy Ðiển lại rất thấp? Sau những giờ học, thay vì nghỉ ngơi, đi chơi cùng các bạn sinh viên, anh xin phép nhà trường cho xuống nhà xác của Bệnh viện Ô-sa-la để nghiên cứu trên các thi thể. Miệt mài học tập và nghiên cứu, cuối cùng anh cũng đã tìm ra được câu trả lời dựa trên những phương pháp luận của khoa học và thực tế. Ngày trở về Việt Nam , trong hành trang là những kinh nghiệm, anh đã chữa, điều trị cứu sống nhiều bệnh nhi. Kể từ đó, tỷ lệ tử vong và di chứng sau phẫu thuật giảm đáng kể.

Năm 2000, khi anh có ý định muốn ghép tạng cho bệnh nhi ở Bệnh viện Nhi trung ương, nhiều đồng nghiệp ở trong nước và ngoài nước đều e ngại. Vẫn biết bệnh viện còn thiếu bác sĩ, y tá có trình độ chuyên môn cao cũng như trang thiết bị hiện đại, nhưng chính ánh mắt của trẻ thơ nhìn anh mỗi lần được khám và điều trị, cùng sự ám ảnh về những cái chết của bệnh nhi đã trở thành động lực thôi thúc anh tìm mọi cách để giành lại cuộc sống cho các em. Câu chuyện bắt đầu từ một bệnh nhi có mẹ Việt Nam , cha Hàn Quốc. Trong thời gian sống cùng mẹ ở Việt Nam, em bé này bị ốm, cấp cứu tại Bệnh viện Nhi trung ương và được chẩn đoán là bị bệnh hiểm nghèo mà Việt Nam chưa chữa được. Ngay sau đó, cha mẹ em đã chuyển em sang Hàn Quốc vào Bệnh viện Samsung và tại đây em đã được cứu sống. GS Liêm kể, theo thông lệ quốc tế, bệnh viện nào tiếp nhận bệnh nhân của một bệnh viện khác thì sau khi chữa trị dù thành công hay không cũng phải thông báo kết quả cho bác sĩ điều trị ban đầu. Vì thế, sau khi cứu sống được em bé đó, bác sĩ người Hàn Quốc ở Bệnh viện Samsung đã thông báo kết quả điều trị. Sau một thời  gian  trao  đổi,  học  hỏi  kinh nghiệm,hai người đã trở thành những người đồng nghiệp thân thiết. Anh đã đề nghị bác sĩ Hàn Quốc ấy giúp đỡ trong việc ghép tạng và một tuần sau, bác sĩ này thông báo rằng, một người bạn của ông là bác sĩ Xuc-kô-li (Suk Koo Lee), một chuyên gia ghép tạng có nhiều kinh nghiệm ở Hàn Quốc đã nhận lời giúp đỡ.

 Ðầu năm 2005, kíp phẫu thuật gồm các giáo sư, bác sĩ đến từ các bệnh viện ở Hàn Quốc, cùng toàn bộ trang, thiết bị hiện đại đã sang Việt Nam, phối hợp các bác sĩ Bệnh viện Nhi trung ương ghép gan. GS Nguyễn Thanh Liêm không bao giờ quên được ca ghép gan đầu tiên ấy. Giáo sư và các đồng nghiệp cùng kíp bác sĩ Xuc-kô-li đã tiến hành ca ghép trong 12 giờ. Bệnh nhi là cháu Hoàng Anh Tuấn 14 tuổi ở Hòa Bình, bị xơ gan cổ trướng và người cho gan là anh Hoàng Văn Thanh, 46 tuổi, bố của cháu. Ca ghép tạng thành công ngoài sự mong đợi.

Ngọn lửa bền sáng tạo

GS Nguyễn Thanh Liêm là người dẫn dắt cho tất cả bác sĩ, cán bộ, nhân viên Bệnh viện Nhi trung ương về tinh thần nhiệt tình, hết lòng vì trẻ thơ, ngọn lửa say mê sáng tạo trong anh đã được đồng nghiệp tiếp nhận và phát huy. Những đóng góp của anh và đồng nghiệp có thể nói ngang tầm quốc tế với những ca mổ như tách thành công bốn cặp trẻ song sinh dính nhau, trong đó có hai cặp Nghĩa - Ðàn, Cúc - An thuộc ca mổ phức tạp. Tám trường hợp ghép thận, bốn trường hợp ghép gan, ba trường hợp ghép tủy. Bên cạnh đó là những kỹ thuật cao như: mổ bệnh phình đại tràng bẩm sinh, kỹ thuật mổ không hậu môn bằng đường sau trực tràng, phẫu thuật chữa thoát vị cơ hoành ở trẻ mới sinh bằng nội soi lồng ngực và nghiên cứu kỹ thuật điều trị viêm mủ màng ngoài tim bằng cắt màng tim rộng qua nội soi lồng ngực... Sắp tới đây, Bệnh viện Nhi trung ương chuẩn bị ghép tế bào gốc để điều trị bệnh ly thượng bì bọng nước bẩm sinh là một loại bệnh gây tử vong cho trẻ em.

Tên tuổi GS Nguyễn Thanh Liêm gắn với những thành công của ngành phẫu thuật nhi khoa Việt Nam . Anh là người tiến hành ca ghép thận trẻ em đầu tiên ở Việt Nam , mở ra hướng điều trị cho trẻ em bị suy thận mãn tính và trẻ bị các bệnh gan, mật hiểm nghèo. Anh cũng là người đầu tiên áp dụng kỹ thuật phẫu thuật nội soi ở trẻ em, được đánh giá cao ở khu vực Ðông-Nam Á; là người tìm ra kỹ thuật mổ phục hồi chức năng cho trẻ em mắc bệnh teo cơ đen-ta, và từ đó đã kiến nghị Bộ Y tế ngừng tiêm chủng vào bắp cơ đen-ta, và thay vào đó là tiêm vào tĩnh mạch... 160 công trình nghiên cứu được xuất bản, trong đó có 30 công trình nghiên cứu được xuất bản trên các tạp chí uy tín của thế giới. Ba lần được mời mổ trình diễn phẫu thuật nội soi tại Ðài Loan (Trung Quốc), In-đô-nê-xi-a, Phi-li-pin, đồng nghiệp thế giới đánh giá rất cao. GS Nguyễn Thanh Liêm là người Việt Nam duy nhất được mời viết sách giáo khoa về phẫu thuật nhi cùng các giáo sư Anh và Mỹ, là người thẩm định các bài báo khoa học của nhiều tạp chí trên thế giới; giảng viên danh dự Truờng đại học Xít-nây; hội viên danh dự hội phẫu thuật Nhi Phi-li-pin; bằng danh dự của bệnh viện Hoàng gia Men-bơn (Melbourne) về những đóng góp xuất sắc cho công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em. Chủ trì hai đề tài cấp Nhà nước, ba đề tài cấp Bộ; đề tài nghiên cứu về cúm gia cầm; đề tài nghiên cứu về xơ hóa cơ đen-ta đã mang lại những lợi ích to lớn trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những công trình nghiên cứu mang ý nghĩa tầm khu vực và thế giới của GS, TS Nguyễn Thanh Liêm chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ người Việt Nam .

GS Nguyễn Thanh Liêm, là một trong những nhà khoa học lớn của y học Việt Nam . Ðiều đó được khẳng định sau những thành công của hàng loạt ca phẫu thuật vô cùng khó khăn mà ông và đội ngũ y, bác sĩ của bệnh viện đã thực hiện thành công trong thời gian qua. Người ta dễ nhận ra ở GS Nguyễn Thanh Liêm một thầy thuốc giàu y đức. Anh làm việc không tiếc công sức, không biết mệt mỏi, luôn khao khát có thêm những đóng góp lớn hơn cho y học nước nhà. Với những đóng góp tích cực của ông cho nền y học Việt Nam, nhất là chuyên khoa ngoại nhi, GS Nguyễn Thanh Liêm đã đón nhận nhiều danh hiệu cao quý của Ðảng, Nhà nước trao tặng như: Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới, Huân chương Lao động hạng  III, Thầy thuốc Nhân dân, Chiến sĩ thi đua cấp thành phố và toàn quốc...

Xem Thêm

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.

Tin mới

Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.