Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 07/10/2009 18:14 (GMT+7)

GS. Hoàng Xuân Hãn với Khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa

Đầu năm 1975, đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa của tập san Sử Địa Sài Gòn được ấn hành tập hợp được 15 bài viết của các tác giả thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau và một thư mục chú giải tổng hợp về Hoàng Sa. Bài viết của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn với tiêu đề “Quần đảo Hoàng Sa” cùng một đoạn trích trong bài viết “Đúng ba trăm năm trước” của ông đã được đưa lên những trang đầu tiên của đặc khảo này.

Trong số 15 bài viết của đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, ngoại trừ những bài viết tập trung khảo cứu về nguồn lợi tự nhiên cũng như công cuộc khai thác các nguồn lợi tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thì còn 10 bài nghiên cứu trực tiếp đề cập đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những bài viết này thuộc hai xu hướng chính: Một là đưa ra những bằng chứng nhằm chứng minh cho chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; hai là dùng lý lẽ và bằng chứng phản biện lại những luận cứ mà Trung Quốc đã đưa ra về chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa. Khảo cứu Quần đảo Hoàng Sa của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn thuộc xu hướng nghiên cứu thứ nhất, cùng với đó là Những sử liệu Tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc của Thái Văn Kiểm, Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua nhiều thế kỷ của Hãn Nguyên, Hoàng Sa qua tài liệu văn khố của Hội Truyền giáo Ba Lê của Nguyễn Nhã…

Trong những nghiên cứu đầu tiên về Hoàng Sa, Trường Sa này, Hoàng Xuân Hãn đã chứng tỏ một thái độ nghiêm túc, cẩn trọng khi tiếp cận với các nguồn sử liệu cũng như phương pháp tư duy tổng hợp, biện chứng sâu sác. Nếu như những nhà nghiên cứu khác chỉ tập trung vào một loại hình tư liệu, như: Thái Văn Kiểm với tư liệu phương Tây (chủ yếu là chữ Pháp, chữ Anh), Hãn Nguyên với tư liệu chữ Hán, Nguyễn Nhã với ghi chép của Hội truyền giáo Hà Lan, ông bà Trần Đăng Đại khảo cứu các văn kiện của Nhà nước từ thời Pháp thuộc đến năm 1974… thì Hoàng Xuân Hãn lại sử dụng tổng hợp nhiều loại hình tư liệu khác nhau.

Trước hết là những tư liệu chính thống của lịch sử nước nhà. Đó là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn; Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn; Đại Nam nhất thống chí; Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú; sách Đông hành thi thuyết thảo của Lý Văn Phức (1). Các tài liệu này được sắp xếp theo trình tự thời gian, được chú giải cẩn trọng và tỉ mỉ (2). Trong Phủ biên tạp lục, ông trích dẫn 2 đoạn, nói về vị trí địa lý (phía ngoài cù lao Ré có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hóa vật của tài bị đắm, đã lập đội Hoàng Sa đến lấy), nguồn lợi (yến sào, ốc vân, hải ba, hải sâm, đồi mồi…) và những sự kiện lịch sử của Việt Nam gắn liền với Hoàng Sa (thuyền buôn bị bão, nhà Nguyễn đặt đội Bắc hải, thuyền của dân đi khai thác ở Hoàng Sa bị gió dạt vào cảng của Trung Quốc được giúp đỡ trở về…). Thông tin trong Đại Nam thực lục cũng có sự kiện cuối cùng, đồng thời xuất hiện địa danh Vạn lý Trường Sa. Tất cả các thông tin ông đưa ra được lồng ghép vào nhau, bổ sung cho nhau, tạo nên những luận cứ xác đáng về hoạt động của người Việt trên quần đào Hoàng Sa muộn nhất là từ thế kỷ XVI.
Sau khi khai thác các tư liệu từ chính sử để bước đầu khẳng định về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Hoàng Xuân Hãn tập trung khai thác loại hình tài liệu thứ hai, đó là các loại bản đồ, bản vẽ. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam lộ đồ vẽ năm 1741, Hồng Đức bản đồ vẽ địa hình nước ta cuối thời Lê, Thuận Hóa Quảng Nam địa đồ nhật trình đồng thời đối chiếu với các sách về địa chí của đất nước, bằng những lập luận xác đáng, ông khẳng định: Về các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa hoặc bãi Cát vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt.

Nguồn tư liệu cuối cùng mà ông cũng đặc biệt quan tâm và biên dịch kỹ lưỡng là tư liệu tiếng nước ngoài, cả tiếng Anh và tiếng Pháp. Đó là những ghi chép của các thương nhân, các nhà truyền giáo khi đến Việt Nam, có những nhận xét, đánh giá về quần đảo Hoàng Sa nói riêng và chủ quyền của người Việt đối với quần đảo này nói chung, như: Linh mục Tabert - một giám mục công giáo người Pháp và là tác giả nhiều sách về ngôn ngữ, phong tục địa lý Việt Nam - trong bài viết Note on the geography of Chochinchina đăng trên tờ báo Á châu hội của người Anh tại xứ Bengale (The Journal of The Asiatic Society of Bengal); Gutzlaff trong bài Geography of the Conchinchinese empire đăng trong tập san Journal of the Geographical Society of London năm 1849; J.B.Chaigneau trong bài Le mesmoire sur la Cochinchine đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Hué số 2 năm 1923. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã cẩn trọng trích dẫn nguyên văn kèm theo phần biên dịch phía dưới, là những chứng cứ đầy sức thuyết phục về sự công nhận của người nước ngoài về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa.

Cuối cùng, quay trở lại với mục đích ban đầu của bài khảo cứu này là khẳng định chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Trường Sa, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã đưa ra những minh chứng quyết liệt nhất. Sẽ là không đủ để xác định chủ quyền nếu như chỉ đưa ra những sự kiện chứng minh hoạt động của người Việt với Hoàng Sa (mà chủ yếu là khai thác). Sẽ là không đủ để xác định chủ quyền nếu như chỉ có những hình vẽ về Hoàng Sa trên bản đồ đất nước. Sẽ là không đủ để xác định chủ quyền nếu như chỉ có sự công nhận của người nước ngoài. Cần có những bằng chứng khẳng định về hoạt động chính thức của Nhà nước về việc xác lập chủ quyền trên quần đảo này. Những bằng chứng ấy đã được Quốc Sử quán triều Nguyễn ghi lại trong Đại Nam thực lục. Đó là việc nhà Nguyễn đã có những chính sách thiết lập đơn vị hành chính, dựng miếu, lập bia thờ thần biển ở Hoàng Sa… Đây là những minh chứng đầy sức thuyết phục khẳng định những hoạt động mang tính Nhà nước về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, cũng là những viên gạch cuối cùng hoàn thành một công trình khảo cứu công phu của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn.

Sau khi khai thác các tư liệu từ chính sử để bước đầu khẳng định về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Hoàng Xuân Hãn tập trung khai thác loại hình tài liệu thứ hai, đó là các loại bản đồ, bản vẽ. Ông đã đối chiếu các bản đồ trong Toàn tập thiên nam lộ đồ vẽ năm 1741, Hồng Đức bản đồ vẽ địa hình nước ta cuối thời Lê, Thuận Hóa Quảng Nam địa đồ nhật trình, đồng thời đối chiếu với các sách về địa chí của đất nước, bằng những lập luận xác đáng, ông khẳng định: Về các bản đồ trước đời Gia Long khẳng định, bãi Tràng sa hoặc bãi Cát vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt.


--------------

* ThS.Khoa Lý luận Chính trị, ĐHBKHN

1) Lý Văn Phức (1785-1849); Danh sĩ đời Gia Long, tự là Lân Chi, hiệu là Khắc Trai, quê làng Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà Đông. Đỗ cử nhân năm 1819, làm Hàn Lâm Viện biên tu ở Quốc sử quán, Hiệp trấn Quảng Nam, Hữu thị lang Bộ Hộ. Được ít lâu bị cách chức rồi đi công cán ở Tân Gia Ba (Singapore), Trung Quốc, Indonesia… Ông mất năm 1849, còn để lại một số tác phẩm văn học có giá trị.

2) Muốn cho văn dịch rõ nghĩa, tôi có sửa chấm câu và thêm vào một vài chữ để trong hai dấu ngoặc “”, trích trong Quần đảo Hoàng Sa, tr.7

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thông tin khoa học và công nghệ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
Trong giai đoạn phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực quan trọng của tăng trưởng, trong đó thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng được xem là nguồn lực chiến lược. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thông tin KH&CN có ý nghĩa thiết thực, góp phần xây dựng nền tảng tri thức phục vụ phát triển nhanh và bền vững.
Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng: Doanh nghiệp phải là chủ thể kiến tạo tăng trưởng và đổi mới mô hình kinh tế
Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng nhấn mạnh, đất nước đang rất cần một bước chuyển về chất sâu sắc: lớn lên bằng năng suất, mạnh lên bằng sáng tạo và đi xa bằng trách nhiệm. Trong đó, doanh nghiệp chính là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp đổi mới...
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Luật gia Việt Nam lần thứ XV, nhiệm kỳ 2026-2031
Sáng 7/10, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Luật gia Việt Nam lần thứ XV, nhiệm kỳ 2026-2031 đã diễn ra phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo tại Đại hội.
Lào Cai: Ra mắt "lá chắn số" CDSH E-learning bảo vệ thanh niên trên không gian mạng
Sáng 6/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp cùng Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tổ chức Sự kiện ra mắt Bộ công cụ tự học trực tuyến CDSH E-learning. Sự kiện thuộc khuôn khổ Dự án “Thanh niên trong công tác phòng ngừa rủi ro trên không gian mạng” do Liên minh Châu Âu tài trợ.
Hội nghị Trung ương 4: Phát huy sức sáng tạo con người trong giai đoạn phát triển mới
Phát biểu tại Khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, Hội nghị Trung ương lần thứ Tư vừa phải giải quyết những điều kiện để thực hiện hiệu quả các quyết sách, vừa phải chuẩn bị cơ sở lý luận, tổ chức và con người cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Lào Cai: Thúc đẩy tiếp cận tín dụng xanh trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng
Ngày 5/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học Công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (YENBAI CDSH) tổ chức Hội thảo “Tài chính vi mô, tín dụng xanh và khả năng tiếp cận vốn của các chủ thể kinh tế quy mô nhỏ trong chuỗi giá trị bảo vệ rừng”.
Lâm Đồng: Hội thảo Giải pháp phát triển kinh tế ban đêm đến năm 2030
Sáng 1/10, tại Trung tâm Hành chính tỉnh Lâm Đồng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Trường Đại học Kinh tế - Tài chính TP Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về phát triển kinh tế ban đêm tỉnh Lâm Đồng. Với sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, địa phương cùng gần 100 chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và đại diện cộng đồng doanh nghiệp.
Đắk Lắk: Liên hiệp Hội - Thành viên tích cực của Mặt trận trong giai đoạn mới
Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phát huy vai trò tập hợp, đoàn kết đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, làm cầu nối giữa trí thức với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Trong giai đoạn mới, Liên hiệp Hội tỉnh tăng cường phối hợp, phát huy nguồn lực trí tuệ, góp phần củng cố khối đại đoàn kết và thúc đẩy Đắk Lắk phát triển bền vững.