Hành tây(Allium cepa) là loại cây thảo sống lâu năm, có giò phình to mà ta thường gọi là củ hành. Hành tây có nguồn gốc ở vùng ôn đới, là loại rau được sử dụng phổ biến ở châu Âu. Người ta dùng trong các món xào, làm dưa chua hay ăn sống. Các nghiên cứu ở châu Âu cho thấy Hành tây có chứa 150 loại hoạt chất khác nhau, trong đó có chất cycloallin có tác dụng chống đông máu nội mạch, do đó có khả năng phòng ngừa tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim với cơ chế tương tự như thuốc aspirin.
Củ hành còn có tính kháng sinh mạnh đối với phế cầu khuẩn, màng não cầu khuẩn, và vi khuẩn lao. Các nhà khoa học ở Đại học Harvard (Mỹ) còn phát hiện trong củ hành có hoạt chất có thể ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư vòm miệng trên súc vật thí nghiệm. Ngoài ra, củ Hành còn được biết đến như là một chất kích dục.
Hình thức áp dụng tốt nhất là ăn sống hoặc trộn với dầu giấm. Củ hành càng cay càng có nhiều tác dụng. Không nên nấu quá chín, có thể làm mất tác dụng.
Ớt (Capsicum frutescens): là loại gia vị độc đáo, và là dược phẩm đa dạng. Tinh dầu Ớt có khả năng ức chế prostaglandin nên là thuốc giảm đau hiệu quả trong các chứng đau dây thần kinh, đau khớp, gout… khi dùng bôi ngoài da. Các chuyên gia ở Đại học Pensylvania (Mỹ) đã chứng minh, cảm giác cay khi ăn Ớt đã kích thích não bộ bài tiết endorphin, một chất morphin nội dinh, có tác dụng giảm đau, gây hưng phấn thần kinh. Chất capsaicin là một alcaloid chủ yếu có ở vỏ quả Ớt. Ớt chứa một lượng vitamin C đáng kể (200 – 400 mg/100g Ớt).
Dùng Ớt tốt nhất là ăn tươi hoặc sấy khô tán bột để dành dùng dần, hoặc ngâm giấm, làm tương Ớt. Ớt là vị thuốc kích thích tiêu hóa hữu hiệu, nhưng cần thận trọng khi có bệnh lý ở dạ dày vì Ớt gây kích ứng niêm mạc dạ dày. Người thường xuyên dùng Ớt trong bữa ăn sẽ tự phòng ngừa được cảm cúm, viêm xoang, viêm mũi.
Lá Ớt có vị đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc. kinh nghiệm dân gian dùng lá Ớt phòng và trị sốt rét: 30g lá giã lấy nước uống trước khi lên cơn khoảng 2 giờ, mỗi ngày uống 1 lần, liên tiếp 5 – 7 ngày.
Tỏi (Allium sativum) là một trong những gia vị có giá trị sinh học rất cao. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tác dụng dược lý của Tỏi; nhiều dược phẩm có chứa Tỏi đã có mặt trên thị trường. Tỏi có tác dụng dược lý như sau: - Tính kháng sinh và kháng nấm mạnh. Tác dụng rất tốt đối với các nhiễm trùng hô hấp trên. Dùng ngoài da có thể trị chàm, nấm da, nấm tóc. Đây là tác dụng của chất allicin có trong tỏi.
- Đối với hệ vi khuẩn ruột, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn nguy hiểm trong ống tiêu hóa, điều hòa hoạt động tiêu hóa. Ngoài ra còn tị giun ống tiêu hóa như gium kim, giun đũa.
- Điều hòa tỉ lệ các cholesterol trong máu, góp phần quan trọng trong việc ngăn chặn sự hình thành các mảng xơ vữa mạch máu, làm hạ huyết áp.
- Có tác dụng ngăn ngừa ung thư, nhất là ung thư ống tiêu hóa do có chứa chất selen, có tính năng chống độc ở hệ tiêu hóa. Ngoài ra, Tỏi còn điều hòa được glucose/ máu, do đó, nên được dùng cho người bệnh đái tháo đường, béo phì.
Gừng(Zingiber officinale): là loại gia vị lâu đời nhất có mặt trong hầu hết những món ăn vị tanh (cá, cua, ốc, ba ba…) thức ăn có tính mát (vài loại rau cải, thịt vịt, thịt chim…) hoặc nấu chung với nước đường để ăn với đậu hủ, chè trôi nước… Gừng có mặt trong hơn 50% các thang thuốc Đông y. Tác dụng nổi bật của Gừng là giảm co thắt ở hệ tiêu hóa và hô hấp do thành phần tinh dầu có trong Gừng.
- Gừng tươi (Sinh khương) có tính tiêu trệ, phát tán trong hàn nên thường dùng làm thuốc kích thước tiêu hóa, ăn không tiêu, bụng đầy trướng, buồn nôn, cảm lạnh, ho có đờm. Gừng tươi gã nát, lấy cả nước và dùng xác đánh gió dọc sống lưng trị cảm lạnh rất tốt.
- Gừng khô (Can khương) là Gừng tươi đồ lên, phơi khô, có tác dụng tương tự Gừng tươi.
- Gừng nướng trên ngọn lửa chữa đau bụng do lạnh đi ngoài nhiều lần rất hiệu quả.
- Gừng sao vàng (Tiêu khương) và sao gần cháy (Thán khương) còn chữa được đau nhức, phong thấp ở người lớn tuổi, băng huyết.
Tiêu (Piper nigrum): là gia vị thông dụng khắp thế giới. Vị cay, tính nóng, mùi thơm, có tác dụng trừ hàn, ôn trung (làm ấm bụng), kiện vị (tiêu thực). Hoạt chất chính là protein, ngoài ra còn có tinh dầu là các terpen nên có tính sát trùng mạnh và mùi thơm, thường dùng ướp thức ăn để lâu.
Với liều lượng vừa phải, tiêu là chất kích thích tiêu hóa vì kích thíc sự tiết dịch vị dạ dày và hưng phấn thần kinh. Người bị bệnh dạ dày nên thận trọng khi dùng tiêu.
Nghệ(Curcuma longa): là gia vị, và là chất tạo màu tự nhiên cho món ăn. Dân gian đã có nhiều kinh nghiệm dùng nghệ làm thuốc như trợ tiêu hóa, chữa đau dạ dày (ăn sống hoặc tán bột), trị bỏng, làm mau lành vết thương (dùng ngoài). Các công dụng chính của Nghệ:
- Nước sắc củ Nghệ tươi làm giảm cholesterol toàn phần trong máu. - Chất màu curcumin trong nghệ làm tăng co bóp túi mật, nên có tác dụng trợ tiêu hóa nhưng không làm tăng axit dạ dày.
- Tinh dầu và chất curcumin trong Nghệ ức chế sự phát triển của vi nấm Candida albicans,phòng chống một số loại ung thư, nhất là ung thư đại tràng.
- Chất curcumin có tính chất bảo vệ tế bào gan và ngăn ngừa thoái hóa mỡ ở gan do cơ chế thu dọn các gốc tự do.