Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 07/10/2009 18:28 (GMT+7)

Geoengineering – hi vọng cuối cùng cho khí hậu Trái đất?

Theo báo cáo mới (do Viện hàn lâm khoa học Vương quốc Anh, Royal Society, công bố ngày 1 tháng 9 vừa qua) đã chỉ ra rằng trừ khi các nỗ lực giảm thiểu lượng khí nhà kính thải ra thành công vượt bậc so với hiện tại, con người sẽ cần tiến hành nhiều biện pháp geoengineering để làm mát Trái đất. Công nghệ geoengineering được cho là rất khả quan về mặt kĩ thuật và một vài trong số này tỏ ra hữu ích trong việc hỗ trợ cho các nỗ lực giảm lượng khí nhà kính nhằm ngăn chặn biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, báo cáo đã xác định những rủi ro tiềm tàng liên quan tới hiệu quả, chi phí kinh tế và tác động môi trường của những biện pháp này.

Giáo sư John Shepherd, người đứng đầu nghiên cứu về geoengineering của Viện Royal Society, cho biết: “Sự thật nghiệt ngã là trừ khi thành công trong việc giảm đáng kể lượng khí thải CO 2, nhiều khả năng chúng ta sẽ phải đối mặt một tương lai với khí hậu khắc nghiệt và bất lợi, khi đó geoengineering sẽ là lựa chọn duy nhất còn lại để hạn chế mức tăng nhiệt độ Trái đất. Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng một vài kĩ thuật geoengineering có thể có những tác động bất lợi khó lường tới con người và các hệ sinh thái – tuy nhiên, theo tình hình hiện tại, chúng ta vẫn chưa có được thành công nào để đảm bảo rằng trong tương lai sẽ không phải dùng đến những biện pháp này. Kĩ thuật geoengineering cùng các hệ quả của nó chính là cái giá con người phải trả cho thất bại của mình trong việc ngăn chặn biến đổi khí hậu.”

Báo cáo tiến hành đánh giá hai dạng kĩ thuật geoengineering chính – Loại bỏ Cacbon Dioxit (CDR) và Điều khiển Bức xạ ánh sáng mặt trời (SRM). Các kĩ thuật CDR nỗ lực đưa Trái đất trở lại trạng thái bình thường; chúng tập trung vào nguồn gốc của vấn đề (lượng CO 2đang tăng lên nhanh chóng trong khí quyển), do đó chắc chắn hơn và ít rủi ro hơn. Chúng được coi là khả dĩ hơn các biện pháp SRM, mặc dù cả hai nhóm này đều chưa thực sự hiệu qủa so với chi phí bỏ ra, với điều kiện những tác động phụ đối với môi trường ở mức có thể chấp nhận.

Các kĩ thuật SRM hoạt động bằng cách phản chiếu lại năng lượng mặt trời, không cho chúng tiếp cận được mặt đất. Điều này đồng nghĩa với giảm nhiệt độ Trái đất một cách nhanh chóng, nhưng không giảm được lượng khí CO 2. Do đó, chúng không có tác dụng giải quyết các tác động rộng hơn của việc tăng lượng CO 2, ví dụ như axit hóa đại hóa, và cần được áp dụng trong một khoảng thời gian dài. Mặc dù kinh phí bỏ ra tương đối thấp, nhóm biện pháp này vẫn chứa những rủi ro đáng kể về các tác động phụ, và chúng chỉ giảm được một vài trong số những tác động của biến đổi khí hậu, trong khi lại ẩn chứa nhiều tác hại tiềm tàng. Báo cáo kết luận rằng các kĩ thuật SRM chỉ hữu ích khi chúng ta buộc phải giảm nhanh nhiệt độ Trái đất, và rằng đây không phải là cách thay thế cho các nỗ lực giảm thiểu lượng khí thải hay các biện pháp CDR.

Giáo sư Shepherd lưu ý thêm, “Không có bất kì công nghệ geoengineering nào thực sự là một phép màu cho nhân loại, và mọi biện pháp đều có những bất trắc, rủi ro đi kèm. Điều quan trọng hàng đầu là chúng ta tiếp tục nỗ lực cắt giảm lượng khí thải, đồng thời sẵn sàng đối mặt với trường hợp xấu nhất nếu chúng ta thất bại. Trong trường hợp sau, công nghệ geoengineering sẽ là lựa chọn duy nhất cho tương lai. Do vậy ngay từ bây giờ cũng cần nghiên cứu và phát triển một cách nghiêm túc các biện pháp khác nhau, các tác động của chúng đối với môi trường và các vấn đề quản lí liên quan. Nếu sử dụng các biện pháp geoengineering một cách vô trách nhiệm hoặc không lưu tâm tới tác động bên lề, rất có thể loài người sẽ lại phải đối mặt với những hậu quả thảm khốc tương tự như biến đổi khí hậu. Chúng ta cần có sẵn một khung quản lý rõ ràng để phòng ngừa điều này xảy ra.”

Trong số các kĩ thuật CDR được đưa ra, những biện pháp sau được xem tiềm năng hơn cả:

• Tách khí CO 2trong không khí và lưu trữ chúng – đây là một biện pháp geoengineering rất được quan tâm do nó làm thay đổi trực tiếp nguyên nhân của biến đổi khí hậu.

• Tăng cường phong hóa - đây là biện pháp tận dụng các phản ứng tự nhiên của CO 2trong không khí với ¬¬đá và các chất khoáng, và được xem như một lựa chọn dài hạn khả quan. Tuy nhiên, vẫn cần nghiên cứu thêm để có được cách làm kinh tế nhất và hiểu được những tác động môi trường có thể đi kèm.

• Sử dụng đất và trồng rừng – báo cáo chỉ ra rằng quản lý việc sử dụng đất đóng vai trò tuy nhỏ nhưng quan trọng trong việc giảm mức tăng CO 2trong khí quyển. Tuy nhiên, phạm vi áp dụng biện pháp này sẽ bị giới hạn bởi các xung đột quanh việc sử dụng đất, và những nhu cầu khác nhau trong việc sử dụng đất cần được xem xét kĩ khi đánh giá tiềm năng của việc gây rừng và tái trồng rừng.

Khi nhiệt độ tăng tới mức báo động và cần đến những biện pháp nhanh chóng hơn, các kĩ thuật SRM sau đây tỏ ra khả quan hơn cả:

• Phun sulfur vào tầng bình lưu để tạo ra các đám mây bức xạ ánh sáng mặt trời – đây là một biện pháp khả thi, các đợt phun trào núi lửa trong quá khứ chính là những cuộc thử nghiệm sơ bộ ngắn hạn cho mức độ hiệu quả của biện pháp này. Chi phí được đánh giá là tương đối thấp và thời gian thực hiện ngắn. Tuy nhiên, vẫn có nhiều câu hỏi lớn xung quanh tác động phụ cần được trả lời, đặc biệt là việc phá hủy tầng bình lưu.

• Các biện pháp trong vũ trụ - đây được coi là một kĩ thuật SRM khả thi về dài hạn nếu những vấn đề chính trong khi triển khai và duy trì có thể được giải quyết hết. Hiện tại, nhóm biện pháp này vẫn bị đánh giá là tốn kém, phức tạp và mất thời gian trong triển khai.

• Các biện pháp liên quan thông số suất phản chiếu (albedo) của mây (ví dụ như xây dựng cloud ship – hạm đội tàu đi trên các đại dương để tạo ra các đám mây lớn làm chệch hướng tia mặt trời) – kết quả chỉ mang tính cục bộ và các tác động xấu lên thời tiết và thủy triều trong khu vực là những vấn đề cần được quan tâm. Tính khả thi và hiệu quả của biện pháp này là chưa rõ ràng. Cần tiến hành nghiên cứu sâu thêm nữa trước khi xem xét nghiêm túc biện pháp này.

Những kĩ thuật ít khả thi hơn:

• Than nhiệt phân (một kỹ thuật CDR) – báo cáo nêu ra những nghi ngạc lớn liên quan tới phạm vi áp dụng khả thi, tính hiệu quả và mức an toàn của kỹ thuật này và khuyến cáo rằng cần có thêm các nghiên cứu chuyên sâu trước khi tin rằng đây là biện pháp đáng tin cậy.

• Màu mỡ hóa đại dương (một kỹ thuật CDR) – báo cáo cho thấy kỹ thuật này chưa được chứng minh là hiệu quả, đồng thời lại tiềm ẩn những tác động sinh thái bên lề khó lường trước.

• Các biện pháp liên quan thông số suất phản chiếu của mặt đất (các kỹ thuật SRM, bao gồm sơn trắng mái nhà, trồng cây có khả năng phản chiếu ánh sáng và đặt gương phản quang trên sa mạc) – đây là những biện pháp tỏ ra không mấy hiệu quả, chi phí đắt đỏ và, trong một số trường hợp, có thể gây ra những tác động nghiêm trọng tới thời tiết trong vùng.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.