Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 16/02/2012 19:31 (GMT+7)

Gặp người cả đời nghiên cứu và giảng dạy văn

Bước sang tuổi 78, giờ ông không được khỏe, đặc biệt là đôi mắt. Đã qua nhiều lần phẫu thuật nhưng giờ ông không thể nhìn rõ được. Ông cho biết, từ tết đến giờ, ngoài đi tới bệnh viện ông không dám ra ngoài vì đau mắt nên rất sợ ánh sáng.

Căn phòng khách nhỏ trên gác hai được bài trí thật đơn giản nhưng sạch sẽ, ngăn nắp, đậm chất nho nhã của một trí thức. Gian bên trong là một kho sách la liệt các tác phẩm văn học, văn hóa, những công trình nghiên cứu, những bằng khen, giải thưởng, tranh ảnh kỷ niệm. Cái không gian yên tĩnh ấy thật hợp với ông- một người có trên nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam.

Một kho tàng đồ sộ về Hồ Chí Minh

Khi nghiên cứu sự nghiệp văn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, GS Hà Minh Đức đã có góc nhìn riêng, vừa khoa học lại vừa thời sự. Dù nghiên cứu sau các bậc tiền bối như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… nhưng GS Hà Minh Đức vẫn tìm ra cách khai thác và cách xử lý tư liệu riêng, lại được sự giúp đỡ chí tình của nhà thơ Hoàng Trung Thông nên năm 1979, công trình “Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn của dân tộc” do NXB Khoa học Xã hội phát hành đã ra đời. Theo GS Đức tự đánh giá, đó là công trình có thể chưa thật xuất sắc bởi nếu xét từng bài thì không thể bằng các bài đơn lẻ của các bậc tiền bối đi trước nhưng nhìn tổng thể thì đó là một công trình nghiên cứu công phu, phong phú, nêu được vấn đề tương đối cơ bản và được dư luận chấp nhận.

Vào hổi 9-11h sáng thứ Ba ngày 21/2, báo Đất Việt sẽ phối hợp với Bộ KH&CN tổ chức buổi tọa đàm "Gặp gỡ các tác giả đạt giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về KH&CN". Kính mời độc giả tham gia đặt câu hỏi với các vị khách mời.

Được đà nghiên cứu, năm 1985, GS Đức tiếp tục cho ra đời “Tác phẩm văn của Hồ Chí Minh” gồm truyện ngắn Hồ Chí Minh, ký Hồ Chí Minh, tiểu phẩm Hồ chí Minh và được chính GS Nguyễn Khánh Toàn viết lời tựa cho tập sách với khẳng định đấy là một cuốn sách được viết nghiêm túc, dù thấy còn một số vấn đề cần phải bàn thêm về văn chương Hồ Chí Minh. GS Hà Minh Đức bồi hồi nhớ lại: Lúc đó, tôi mới tròn 40 tuổi nhưng tôi hiểu rằng “xin được chữ của thầy Nguyễn Khánh Toàn hoàn toàn không phải việc dễ, tôi rất biết ơn sự quan tâm, khích lệ từ người thầy của mình”.

Sau đó, GS Đức tiếp tục viết và năm 2000 tập hợp lại thành cuốn tiểu luận “Văn thơ Hồ Chí Minh” bao gồm thơ chúc thọ Hồ Chí Minh, thơ tứ tuyệt Hồ Chí Minh, trí tuệ trong thơ Hồ Chí Minh….

Không chỉ nghiên cứu về sự nghiệp văn thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi về khoa Báo chí trường ĐH KHXH&NV Hà Nội với cương vị Chủ nhiệm khoa, GS Hà Minh Đức lại thấy mình cần phải tiếp tục nghiên cứu về sự nghiệp báo chí của Người. Ông lại vượt khó, viết tiếp công trình “Báo chí Hồ Chí Minh” gồm 4 quyển do NXB Chính trị quốc gia phát hành năm 2000. Cũng như khi nghiên cứu về văn thơ Hồ Chí Minh, trước ông cũng đã có nhiều người viết báo chí Hồ Chí Minh nhưng chủ yếu viết dưới dạng biên niên, còn ông chọn một hướng đi riêng, viết về đặc điểm và phong cách báo chí Hồ Chí Minh trên sự kết hợp hài hòa của hai trục: trục thời gian năm tháng và trục những vấn đề báo chí mà cụ Hồ đã rất sắc sảo khi phát hiện.

“Qua công trình “Báo chí Hồ Chí Minh”, tôi rút ra được rằng báo chí Hồ Chí Minh là luôn luôn nhất quán với nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội bình đẳng, dân chủ; kể từ tờ Người Cùng Khổ cho đến các tác phẩm báo chí sau này, phản ánh đúng hiện thực của đất nước qua những chặng đường lịch sử, các tác phẩm của Người in dấu rất rõ tầm tư tưởng, cách suy nghĩ và trình độ nghệ thuật báo chí Hồ Chí Minh đã đạt đến trình độ cao”. GS Đức nhận xét.

 50 năm cho một tác phẩm

Khi nhắc đến sự nghiệp nghiên cứu của mình, GS Đức cho rằng, ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ những người thầy mà ông may mắn được thụ giáo và cả đời ông luôn kính trọng như Hoài Thanh, Nguyễn Khánh Toàn… và đặc biệt là cố GS Đặng Thai Mai. “Năm 1957, tôi được giữ lại trường và tôi được GS Đặng Thai Mai hết sức quan tâm giúp đỡ. Tôi đi theo môn lý luận văn học của thầy, sau đó là văn học Việt Nam. Thầy căn dặn tôi nhiều thứ và đấy là một tấm gương sáng mà tôi may mắn được học. Sau này, dù phát triển theo nhiều hướng đi khác thầy nhưng tôi vẫn luôn nhớ đến lời và tính cẩn thận của thầy. Nếu đưa cho thầy một bài viết mà không đề ngày là thấy không cầm, không đọc. Thầy bảo tôi, chữ đầu tiên của bất kỳ viết cái gì cũng phải đề ngày và chữ cuối cùng phải là xuất xứ của nó”. GS Đức bồi hồi nhớ lại.

Theo GS Đức, nghiên cứu khoa học xã hội không thể vội vàng mà cần sự lắng đọng của thời gian. Như tác phẩm “Tự lực văn đoàn- trào lưu và tác giả”, NXB Giáo dục xuất bản năm 2007 nhưng trước đó từ năm 1956, trên tờ Sinh viên Việt Nam, ông đã có một bài viết dài về Tự lực văn đoàn. Sau đó, việc nghiên cứu về Tự lực văn đoàn bị ngắt quãng do thời cuộc bởi trước năm 1986 không khí chung là xã hội không chấp nhận Tự lực văn đoàn. Ông bảo, đề tài Tự lực văn đoàn là đề tài mà ông rất thích, nhưng vì thời cuộc khó khăn và phức tạp nên đôi lúc trùng xuống, nhưng ông vẫn nuôi hy vọng rằng sẽ có lúc nó lại được khai thác trở lại. Đúng như thế, 50 năm sau, Tự lực văn đoàn trào lưu và tác giả đã hoàn thành. Sau khi in ra được nhiều học giả ca ngợi và được xã hội chấp nhận.

Hay từ khi đặt bút nghiên cứu bài đầu tiên về Hồ Chí Minh đến bài viết cuối cùng trong tác phẩm “Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc”năm 1979 ông đã phải chuẩn bị rất công phu, phải mất 7 năm nghiên cứu trước đó mới hoàn thành.

Không chỉ nghiên cứu về văn học, báo chí; GS Hà Minh Đức còn nghiên cứu sâu về văn hóa Việt Nam. Ông cho biết, sang thế kỷ 21, vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu văn hóa Việt Nam một cách bình đẳng và khai thác tối đa những giá trị của nó. Với công trình nghiên cứu chuyên sâu “Một nền văn hóa văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú” (2005) ông đã rút ra được đặc điểm văn hóa Việt Nam rất phong phú, đa dạng tích lũy từ hàng nghìn năm lịch sử, trong đó nhấn mạnh đến 3 cái ưu trội của văn hóa Việt Nam là văn học (với nhiều danh nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh); lễ hội (với hàng nghìn lễ hội phong phú, chủ yếu gắn liền với các anh hùng, nói lên cái gắn bó, đoàn kết của dân tộc) và bàn tay vàng (thể hiện trong toàn bộ hoạt động nghệ thuật như trạm, trổ, xây dựng đình, đền, miếu lăng, các nghề thủ công)

Khoa học trong văn học là cái quy luật

GS Hà Minh Đức cho rằng, tính khoa học trong văn học rất khác so với các bộ môn khác, bởi nó không dễ nhận ra. Không tự nhiên một người trở thành một nhà văn lớn, không tự nhiên một người có một tác phẩm hay mà ngoài tố chất bẩm sinh người đó còn có mạch dân tộc truyền vào, tinh hoa của đất nước cùng với sự đan cài các khuynh hướng khác nhau như đấu tranh, chống đối, đối lập theo anh đến cả cuộc đời. Tất cả không phải ngẫu nhiên mà đó là một quy luật.

Ngoài ra, làm người nghiên cứu văn học không đơn giản, phải tìm hiểu rành rẽ quá trình vận động của văn học như vận động giữa văn học và cuộc sống, vận động giữa những tác động của các yếu tố của một dân tộc mà có tính truyền thống đến văn hóa, giải thích tại sao các nước lại có các truyền thống văn hóa khác nhau…. Nhưng ông cũng nhận rằng “Điều làm tôi cảm thấy nguy nhất hiện nay là giới trẻ đang dần rời bỏ quá khứ, xem nhẹ quá khứ, xô vào hiện đại, hậu hiện đại. Dư luận văn chương chúng ta trong mấy chục năm qua nhiều lúc bị cuốn đi theo yêu cầu nóng của xã hội nên không tránh khỏi bồng bột, thiếu khách quan”. Và ông đã chủ trương viết đúng lòng mình, không viết khác những điều mình suy nghĩ, cũng tránh thái quá, khi muốn khen những điều đáng khen và chê những điều đáng chê, luôn hết sức thận trọng khi viết về những vấn đề mà mình đã theo đuổi nghiên cứu. 

Và ông, GS Hà Minh Đức đã rất xứng đáng với những danh hiệu, giải thưởng cao quý mà Nhà nước đã dành cho ông: Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN cho những thành tựu về nghiên cứu và giảng dạy của ông suốt hơn nửa thế kỷ.

GS Hà Minh Đức sinh năm 1935 tại Thanh Hóa. Ông tốt nghiệp và bắt đầu làm công tác giảng dạy đại học từ năm 1957. Ông học cùng với Phan Cự Đệ, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Hải Hà, Trần Văn Bính. Ông được xét giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN năm 2010 cho cụm công trình: Sự nghiệp văn học, báo chí Hồ Chí Minh và một số vấn đề lý luận, thực tiễn văn hoá, văn nghệ Việt Nam, bao gồm Nhóm công trình ( Sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh, báo chí Hồ Chí Minh (chuyên luận và tuyển chọn)) và Nhóm công trình (Tự lực văn đoàn trào lưu và tác giả (Phần chuyên luận); Một nền văn hóa văn nghệ đậm bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú). Hội đồng xét Giải thưởng Hồ Chí Minh về KHCN năm 2010 đã nhận xét: Cụm công trình có những kiến giải khoa học sâu sắc và có sức thuyết phục cao, khái quát những đóng góp to lớn của tác giả Hồ Chí Minh cho sự nghiệp văn học và báo chí của dân tộc; có ảnh hưởng sâu rộng trong việc nghiên cứu văn hoá, văn học Việt Nam thế kỷ XX với những giá trị rất cao về văn học sử cũng như phương pháp luận nghiên cứu.

Xem Thêm

Tin mới

An Giang: ông Trương Minh Thuần làm Chủ tịch Liên hiệp Hội
Trong 02 ngày 17&18/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang (Liên hiệp Hội tỉnh An Giang) tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên của Liên hiệp Hội tỉnh sau hợp nhất An Giang và Kiên Giang, đánh dấu bước chuyển mới trong tổ chức, tập hợp và phát huy nguồn lực trí thức khoa học, công nghệ trên không gian phát triển mới của tỉnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.
Chủ tịch Bùi Thị Minh Hoài dự Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031
Chiều 14/9, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026 - 2031 đã tiến hành phiên trọng thể. Bà Bùi Thị Minh Hoài - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Hàng triệu dữ liệu khoa học, công nghệ quốc gia được chia sẻ chung trên một nền tảng
Hệ thống bước đầu hội tụ khối lượng lớn dữ liệu, gồm thông tin về nhiệm vụ khoa học và công nghệ, công bố khoa học, tổ chức khoa học và công nghệ, nhân lực khoa học và công nghệ, thống kê khoa học và công nghệ; cùng hàng triệu dữ liệu được kết nối, chia sẻ từ các hệ thống nghiệp vụ của Bộ như sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng...
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt
Sáng ngày 11/9, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Lâm Đồng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Đại học Thủy lợi - Viện Đào tạo và Khoa học ứng dụng Miền Trung tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Giải pháp tổng thể phòng, chống ngập úng đô thị Đà Lạt trong bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Vĩnh Long: Trao 110 giải thưởng Sáng tạo Thanh thiếu niên, nhi đồng
Sáng ngày 11/9/2026, tại Hội trường UBND tỉnh Vĩnh Long, Ban Tổ chức Cuộc thi Sáng tạo dành cho Thanh thiếu niên, nhi đồng tỉnh tổ chức Hội nghị Tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ I (năm học 2025–2026) và chính thức phát động Cuộc thi lần thứ II. Hội nghị do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (cơ quan Thường trực Ban Tổ chức) phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan thực hiện.