Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 01/07/2011 21:09 (GMT+7)

Đường đi của đội tàu vận tải ở thương cảng Vân Đồn xưa

Sự trù phú của thương cảng Vân Đồn từ thế kỷ thứ VIII đã làm chính quyền phong kiến phương Bắc lo âu, họ đã ra quyết định hành chính để cạnh tranh với Vân Đồn (2). Mặc dù bị chính quyền phương Bắc tìm cách hạn chế, tàu thuyền các nước Đông Nam Á vẫn ra vào cảng Vân Đồn buôn bán với Đại Việt.

Trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam từ nhà Lý đến nhà Lê, nhất là từ Lê Thánh Tông trở đi, triều đình đã quy định rất rõ hoat động ở thương cảng Vân Đồn trong bộ Quốc triều hình luật(thường gọi là luật Hồng Đức).

Theo quy định, tàu nước ngoài dù là nước nào, xa hay gần đã vào cảng đều phải neo đậu ở Vân Đồn. Hàng hóa nước ngoài nhập vào Đại Việt chủ yếu là gấm vóc và những hàng hóa mà Đại Việt có nhu cầu được chuyển sang thuyền (tàu) của các trang (3) để đưa về kinh và lấy hàng của Đại Việt ra bán hoặc trao đổi cho nước ngoài. Triều đình quyết định như vậy bởi hai lẽ:

Thứ nhất, sông Đại Việt nhỏ, nông, tàu thuyền nước ngoài to không đi lại được. Nhưng quan trọng hơn là yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia. Theo sách Đại di chí lượccủa Uông Đại Uyên, thuyền buôn “không được đi tới nơi quan trường vì sợ người Trung Quốc dò thấy tình hình thực hư của nước họ vậy” (4). Vì tình hình đó, từ năm 1149 trở đi Vân Đồn mới có nơi ở cho thủy thủ tàu nước ngoài cư trú, chờ đợi.

Hàng do thuyền (tàu) của các trang Vân Đồn mang vào có loại dâng cống trực tiếp cho vua, có loại nhập vào kho của triều đình và nhận hàng của Nhà nước ra giao bán. Thời Lý - Trần, buôn bán ngoại thương chỉ có Nhà nước thực hiện, tư nhân không được buôn bán với nước ngoài (trừ buôn lậu, ngay ở cảng Vân Đồn vẫn có khu vực tàu nước ngoài lén vào mua và bán hàng lậu).

Hành trình của thuyền (tàu) từ Vân Đồn ra đi và trở lại Vân Đồn ra sao, chưa có một tài liệu nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, hệ thống. Chúng ta chưa vẽ được một bản đồ về hành trình của đội thuyền (tàu) của Vân Đồn vào kinh và từ kinh về cảng qua các thời đại.

Gần đây, trong một chuyến công tác tại Hưng Yên, chúng tôi đã đến thăm một số di tích của Phố Hiến. Ở Phố Hiến đến nay vẫn giữ nguyên một số đền, chùa và một ngôi nhà vẫn giữ nguyên kiến trúc thời xưa, còn lại là nhà mới xây dựng của những năm 90 thế kỷ thứ XX. Qua câu chuyện của cán bộ địa phương, chúng tôi còn được biết trước đây nhân dân Hưng Yên làm thủy lợi đã đào được một số tàu thuyền cổ, trong đó có tàu rất nhiều hàng hóa. Dư luận nhân dân Hưng Yên thời đó cho rằng thuyền của triều đình đi cứu trợ bị nạn (?).

Rất tiếc cho thương cảng Vân Đồn đã gần 1.000 năm tuổi đến nay chưa có điều kiện để nghiên cứu đầy đủ về mọi mặt của một cảng biển quan trọng vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Năm 1971, GS Đỗ Văn Ninh nghiên cứu thương cảng Vân Đồn trong cuốn Tìm lại dấu vết Vân Đồn lịch sử,đến năm 1973 sách được tái bản. Tác phẩm này xuất hiện đồng thời với cuộc tranh luận của một số người ở các xã thuộc huyện Vân Đồn ngày nay, đến năm 2005 cuộc tranh luận mới tạm ổn. Chủ đề tranh luận là cảng Vân Đồn ở đâu là chính (Quan Lạn hay Thắng Lợi), chúng tôi cho rằng dù ở Quan Lại hay Thắng Lợi đều là phạm vi của cảng. Điều cốt yếu là 10 trang 1 phường của Vân Đồn xưa, nay thuộc xã nào, hiện còn dấu tích gì về các trang đang tồn tại trong dân giang.

Trang ở Vân Đồn thời Lý Trần là một đơn vị hành chính kiêm việc quản lý hoạt động của thương cảng (theo Quốc triều hình luật). Tuy vậy, lực lượng vận tải của thương cảng được tổ chức ra sao? Có bao nhiêu thuyền (tàu) đến nay vẫn chưa có lời giải. Ngay cuốn Tìm lại dấu vết Vân Đồn lịch sửcũng chưa đề cập đến hoạt động có tính chất quyết định sống còn của thương cảng.

Tác giả Tìm lại dấu vết Vân Đồn lịch sửcũng tái khẳng định năm 1149 là năm lập thương cảng Vân Đồn, theo chúng tôi là chưa thỏa đáng. Tại một bài nghiên cứu trên Quảng Ninh xưa naysố 1, chúng tôi đã bàn về chủ đề này.

Đi xem Phố Hiến, được nghe kể về phố cảng cách đây 400 năm, chúng tôi cứ mường tượng cái nhộn nhịp, tấp nập của Phố Hiến có thể có sự góp mặt của các đội thuyền (tàu) của thương cảng Vân Đồn. Đây là phỏng đoán, vì nghiên cứu đường đi của đội thuyền (tàu) của thương cảng Vân Đồn là phải tìm từ điểm xuất phát. Làm rõ được vấn đề này là góp phần vào quá trình nghiên cứu toàn diện thương cảng đầu tiên của Đại Việt xưa, nhưng quả thật để nghiên cứu được vấn đề này cũng còn quá nhiều nan giải:

Thứ nhất, thư tịch cổ còn cất giữ nhiều tư liệu nhưng Quảng Ninh chưa khai thác hết. Chúng tôi kiểm đếm còn khoảng 13 đầu sách Hán - Nôm viết về An Bang, An Quảng - Quảng Yên nhưng phần lớn đề cập đến các vấn đề khác, thi thoảng có sách nhắc đến Vân Đồn nhưng còn sơ lược (sách địa chí). Tuy thế, kho sách Hán - Nôm còn rất nhiều sách về các đề tài khác nhau ở thời Lý - Trần cũng cần khai thác nhằm tìm hiểu thêm về hoạt động ngoại thương và hoạt động giao thông vận tải thời đó. Đây là nguồn tài liệu quý có thể giúp ta giải đpas nhiều vấn đề về thương cảng Vân Đồn hiện chưa có lời giải. Quảng Ninh đã biên soạn và in sách địa chí, có điều phần giao thông nói chung, thương cảng Vân Đồn nói riêng còn sơ sài.

Thứ hai, những năm qua hoạt động khảo cổ đã mang lại nhiều kết quả khả quan, phát hiện thêm một số chủ nhân của vùng đất người Việt cổ sinh sống. Việc khai quật một số di chỉ trong phạm vi thương cảng Vân Đồn đã thu được nhiều hiện vật, trong đó có nhiều loại tiền của các triều đại phong kiến phương Bắc, nhiều loại gốm sứ quý của Đại Việt. Đặc biệt, qua khai quật di chỉ khảo cổ ở Minh Châu đã phát hiện khá nhiều tiền thời Tây sơn, chứng tỏ cảng Vân Đồn vẫn phát huy tác dụng quan trọng của một cảng biển lớn cho thế kỷ XVIII.

Từ những diễn biến đó, chúng tôi cho rằng những con thuyền cổ ở Hưng Yên là thuyền (tàu) chở hàng của thương cảng Vân Đồn. Chỉ tiếc số thuyền đã phát hiện thì bị phá hủy, số còn lại đang bị vùi sâu dưới mặt đất. Rõ ràng chúng ta đã có cố gắng nhưng trong thực tế hoạt động khảo cổ chưa có một chương trình phối hợp giải đáp yêu cầu về thương cảng Vân Đồn xưa.

Thứ ba, sách báo thư tịch của các nước Đông Nam Á, Đông Bắc Á có giao dịch buôn bán với Đại Việt xưa có thể không phải là ít. Nêu vấn đề này vì trong sách Lý Thường Kiệt, GS Hoàng Xuân Hãn đã sử dụng khá nhiều tư liệu từ các sách thời Tống như sách An Nam mậu dịch cảng Vân Đồn, Lĩnh ngoại đại đáp…Trên tạp chí NCLS thi thoảng công bố một vài tài liệu liên quan đến thương cảng Vân Đồn, hoặc có lần chúng tôi đi nghiên cứu ở Canada, đến thăm gia đình luật sư Jean Francois Lespaine ở Quebec, ông giới thiệu cho chúng tôi toàn bộ công báo của chính phủ Pháp có liên quan đến Việt Nam từ 1884 - 1945. Nghe ông Lespaine giới thiệu mà không đủ thời gian để nghiên cứu, sao chụp những vấn đề liên quan tới vùng đất thuộc Quảng Ninh những năm đó.

Nêu vấn đề này để khẳng định tư liệu lịch sử về thương cảng Vân Đồn ở nước ngoài còn khá nhiều, chỉ có phương cách tổ chức để thu thập tư liệu giúp cho công tác nghiên cứu trước mắt và lâu dài được phong phú, thuận lợi. Chúng tôi nghĩ, huyện Vân Đồn, ngành VH - TT - DL, hội Khoa học lịch sử tỉnh Quảng Ninh cần phối hợp tổ chức nghiên cứu một đề tài khoa học cấp tỉnh. Tuy có khó khăn nhưng làm từng bước, giải quyết dần từng vấn đề chúng tôi tin chắc sẽ khắc phục được những khiếm khuyết hiện tại.

Trước những vấn đề học búa đó, chúng tôi nghĩ huyện Vân Đồn cùng Hội Sử học, Sở VH - TT - DL nên phối hợp tổ chức những cuộc hội thảo nhằm tranh thủ thêm ý kiến của các nhà sử học, người nghiên cứu lịch sử kinh tế đối ngoại, chuyên gia nghiên cứu lịch sử quản lý Nhà nước thời Lý - Trần - Lê để từng bước làm rõ những vấn đề của thương cảng Vân Đồn mà lịch sử còn giữ kín.

Chú thích:

1/ Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần,tr 185.

2/ Tạp chí NCLS số 130, tr 19.

3/ Nguyễn Trãi toàn tập,Nxb KHXH, H.1976, tr 225.

4/ Đỗ Văn Ninh, Tìm lại dấu vết Vân Đồn lịch sử, Ty VHTT Quảng Ninh, tr 79, 80.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.
Hội nghị AFEO Midterm 2026
Ngày 30/6, tại Yangon, Myanmar, Liên đoàn các tổ chức kỹ sư ASEAN (AFEO) chính thức khai mạc phiên toàn thể Hội nghị giữa kỳ lần thứ 25. Đây là diễn đàn thường niên được tổ chức nhằm để các nhà khoa học, các kỹ sư, các chuyên gia cùng chia sẻ, thảo luận các giải pháp trong việc xây dựng một tương lai bền vững cho khu vực ASEAN.
Lào Cai: 118 hộ đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi từ mô hình cấp nước tự quản
Sau gần một năm triển khai, Dự án “Hỗ trợ nước sinh hoạt cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng dân tộc thiểu số thôn 4, xã Khánh Hòa, tỉnh Lào Cai” do Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM) thực hiện đã hoàn thành mục tiêu, đánh dấu một mô hình điểm về quản lý, vận hành hệ thống cấp nước dựa vào cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho 118 hộ dân.
Hải Phòng: Chuyển đổi số toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Sáng 26/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố (Liên hiệp hội) Hải Phòng phối hợp với Hội Điện tử và Tin học thành phố, Chi nhánh Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - Chi nhánh Duyên hải Bắc Bộ (VCCI Duyên hải Bắc Bộ) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề: “Nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Hải Phòng thông qua chuyển đổi số toàn diện”.