Dò Nặm Páo trong tâm thức người Thái ở Nghệ An
Trong đám tang của người Thái, có nhiều nghi lễ, trong đó có 2 nghi lễ quan trọng là lễ “giải tội” để cho con cháu tạ lỗi với người đã khuất, và lễ “ọc tà” (ra bến nước) để tăm rửa cho vong hồn quá cố. Lễ “ọc tà” luôn được coi là nghi thức tối thượng trong đám tang.
Những người cùng tham gia bao gồm gia quyến, họ hàng, thông gia, dâu rể… Trong diễn trình của các nghi lễ thông thường ở các lễ nhập quan, lễ giải tội, lễ “ọc tà”, lễ đưa quan… về phía thông gia, có thể vắng mặt, kể cả việc tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng. Nhưng nhất thiết không thể vắng mặt trong lễ “ọc tà”. Lễ “ọc tà” thường được diễn ra tại bến nước chung của bản (Nếu điều kiện sông suối, bến nước… ở xa thì có thể chỉ là một con mương, dòng khe… nào đó cũng được).
Cùng với đông đảo mọi thành phần trong đoàn đi làm lễ, người ta đem theo một ống nước vo gạo (thời trước hay dùng nước vo gạo ngâm, gọi là “nặm muộc”, để gội đầu); một cái lược; một lọn tóc (“choọng” tóc) tượng trưng cho nơi trú ngụ của hồn vía người quá cố; một tấm thổ cẩm nhỏ xếp gọn (tượng trưng cho thi hài) đặt trong cái võng nhỏ do hai người khiêng tượng trưng. Mục đích, ý nghĩa của lễ “ọc tà” là nhằm tắm táp, gột rửa cho linh hồn của người đã khuất được thanh sạch trước khi về với mường Then ở cõi vĩnh hằng.
Trong lời cúng của nghi lễ này bao giờ cũng có câu: “ Lừa xé cau xé mình hơ hảo, páo xé kinh xé đảng hơ chanh”. Trong lời cúng có 4 cặp từ đối nhau, trong đó các cặp: cau/ mình – kính/ đảnglà những danh từ chỉ về hồn, vía, thể xác; hảo – chanhlà hai tính từ mô tả sự trong trắng, thanh sạch/ rạng ngời, tường tỏ; lừa páolà hai động từ có nghĩa là rửa – bào.Hãy xét kỹ hơn về động từ páo.
Páocó nghĩa đen là bào. Động tác bào một tấm ván, người Thái gọi là “páo binh pen”. Nhưng nghĩa bóng của từ páolại rất khó khi chuyển dịch sang tiếng Việt, song vẫn có thể suy ra như sau: páo = bào,gột rửa, lược bỏ… Theo đó, nghĩa lược dịch cho lời cúng trên có thể hiểu như sau: “Rửa cho vía được sạch sẽ/ Gột cho hồn được thanh thoát”. Sau khi thầy cúng đọc lời khấn tại lễ ‘ọc tà’, người ta rẩy ít nước vo gạo trong ống vào cái lược đem theo rồi chải tượng trưng lên lọn tóc đem theo, rồi lại chải và vuốt vào tấm thổ cẩm tượng trưng cho thân thể.
Kết thúc nghi thức này, mọi người cùng nhau rửa mặt, vuốt tóc, rửa tay chân… làm chộn rộn cả bến nước, bởi ai cũng cầu mong cho “vía mình được sạch, hồn mình được thanh”. Mong cho mọi sự bất hạnh, mọi điều không may sẽ rời xa cuộc sống trần thế của mình; cầu cho những sự dơ bẩn, đen tối sẽ bị cuốn theo dòng nước… Sau lễ “ọc tà” này, hồn người chết được coi là đã sạch sẽ, thanh thoát; sẽ được thầy mo hát kể lời mo tiễn đưa về mường Then, về cõi vĩnh hằng. Với người Thái ở Nghệ An, chỉ trong lễ “ọc tà” trong đám tang, người ta mới cùng nhau làm động tác “ lừa cau mình – páo kính đảng” tại bến nước chung của bản. Ngoài ra, việc páonày vẫn diễn ra trong cuộc sống bình thường khi làm cho người già.
Trong cuốn “ Mo khuôn” do Vương Trung sưu tầm và biên soạn, có 2971 câu thơ tiếng Thái (đúng hơn là các lời mo) của người Thái miền Tây Bắc, nêu rõ từng đường đi nước bước của lời mo páo khuổncho người già (người Thái ở Nghệ An đọc là páo vẳn) bao gồm páo khuổn nướng lùm(tại mường đất) và páo khuổn mướng phạ(tại mường trời).
Theo Vương Trung, páo khuổnđược dịch sang tiếng Việt là “chiêu hồn”. Nếu páođược dịch sang tiếng Việt với nghĩa là chiêuhẳn có phần đúng, nhưng cũng chưa phải là đủ. Trong ý nghĩa của việc làm lễ “mô khuôn” nhằm tạo cơ hội cho thầy mo rong ruổi khắp các mường ngược mường xuôi hay mường trời mường đất để tìm đến các vía bị lưu lạc (sa vào vòng cám dỗ, mải vui hội hè, hoặc bị các thế lực của những ma bắt bớ, giam cầm… theo quan niệm của tâm Thái), trong suốt quãng đời ở cuõi dương gian, rồi thức tỉnh cho các vía bởi những ý lo nào đó mà sa vào vòng lầm lạc, cũng có khi phải ra tay để giành lại những hồn vía ấy, sau đấy dẫn dắt các hồn vượt qua những cửa ải, những trở ngại, những cạm bẫy… trên con đường quay trở lại với bản thể để tạo dựng lại sức mạnh cho cả thể xác lẫn tinh thần, mong cho con người được tăng thêm tuổi thọ…
Thực tế cho thấy, việc “làm vía” cho người già ở vùng Thái Nghệ An cũng tương tự người Thái ở các tỉnh miền Tây Bắc. Điểm khác là, ở miền Tây Bắc, có khái niệm khá rõ về “cõi niết bàn, nơi cực lạc”, bao gồm 2 tầng là liến pán luông(cõi niết bàn lớn) dành cho các dòng họ danh giá. Và liến pán nọi(cõi niét bàn nhỏ) dành cho các dòng họ bình dân.
Thế nhưng, trong cuốn “Luật tục Thái ở Việt Nam” (Ngô Đức Thịnh, Cầm Trọng, Nxb, VHDT, Hà Nội 1999) - đa phần sư tầm về luật tục Thái ở vùng Tây Bắc lại không đề cập đến một lễ nghi nào về việc “ páo kính đảng” cho người chết trước khi lên mường Trời như phong tục của người Thái ở Nghệ An.
Người Thái ở Nghệ An, không có quan niệm về “cõi niết bàn”, hoặc có đôi chút nhưng hết sức mờ nhạt (thông qua một vài câu chữ trong lời cúng). Thời xưa, người Thái ở Nghệ An (có mặt từ thế kỷ VI - bài đã dẫn) thông giao với người Việt (kinh) chủ yếu theo đường thuỷ là sông Hiếu và sông Lam (Nậm Pao), mãi cho đến đầu thế kỷ XV mới có việc Lê Lợi đem quân vào đất Nghệ An, lên đánh giặt Minh ở các khu vực có người Thái sinh sống. Việc thông giao sau đó không mấy phát triển bởi đâu như mãi đến tận thế kỷ XIX mới hình thành chính thể phong kiến một cách chính thức.
Việc thông giao với người Lào cũng chẳng khả quan hơn do phải băng rừng vượt núi, địa hình không thuận lợi, phải đi bộ hoặc đi ngựa là chủ yếu. Cũng do điều kiện tự nhiên về địa lý, địa chất, các mường Thái ở Nghệ An khá nhỏ hẹp nên không có những điều kiện để tạo thế và lực như ở các mường Thái rộng lớn ở miền Tây Bắc. Bằng chứng là chức thổ quan của người Thái ở Nghệ An chỉ được phát triển đến chức tạo mướnglà hết, chứ không phát triển lên đến chức phuýa luổng(vùng Tây Bắc thường gọi là phìa) được, bởi đó là chức vụ cai quản ở tầm rộng lớn với quyền hành cao hơn…
Khi tiễn hồn người chết về trời, người Thái ở Nghệ An chỉ hay đưa về núi Pú Quái (núi thờ trâu – nơi có đền Chín Gian ở huyện Quế Phong); và tiếp đó là đưa tiễn lên trời gặp các vị tiên tổ, được Pò Then làm nhà, cấp cho ruộng đất, thế là xong, chẳng nhắc đến cõi niết bàn lớn hay nhỏ gì cả! Vả lại, đền Chín Gian thì mãi đến đầu thế kỷ XV mới được dựng lên, ít nhất là trong các tài liệu lịch sử cho thấy như thế.
Đến năm Minh Mệnh thứ 4 (1850), đề Chín Gian mời nhà sư Thái Lan sang trụ trì. Vị sư đầu tiên trụ trì đến 12 năm và được phong hiệu là KĂM. Việc thông giao với Thái Lan theo đường qua Lào do vậy đã phát triển thêm một phần, và người Thái ở Nghệ An đã có một khái niệm mơ hồ về Đức Phật, về toà sen, về miền cực lạc… Sự mơ hồ và không đầy đủ thông tin đó diễn ra trong một thời gian khá dài, một mặt do đạo Phật không đủ sức du nhập hẳn vào miền Tây Nghệ An bởi những trở ngại về địa lý như đã nêu, mặt khác người Thái ở Nghệ An có điểm tựa tâm linh vững chắc qua sự thờ cúng hàng năm tại đền Chín Gian nên không thực sự dành nhiều chú tâm cho giáo ký nhà Phật.
Dấu ấn đáng kể của Phật giáo còn được ghi nhận ở Nghệ An là hình tượng Thánh Mẫu được phụng thờ chung với ngôi Trời (Pò Then) ở đền Chín Gian chăng? Chỉ biết rằng, sự mơ hồ, không rõ ràng về một “cõi niết bàn”, “miền cực lạc” đã dẫn tới việc người Thái ở Nghệ An vô tình đồng hoá xứ sở của người Lào (đất Phật) thành một “miền cực lạc”, cũng là “cõi vĩnh hằng”…. Cho đến nay, cộng đồng người Thái ở Nghệ An vẫn còn sử dụng thành ngữ “mứa Láo” theo cách hiểu là “về cõi vĩnh hằng”, chứ không phải hiểu đơn thuần là “đi đến nước Lào” như nghĩa đen của từ. Riêng với người Thái vùng Tây Bắc thì nhận biết về thành ngữ “mứa Láo” chỉ là một thông tin thông thường đúng với nghĩa đen của nó.
Khát vọng rời xa và gạt bỏ mọi điều xấu, vươn tới sự hoàn thiện, hoàn mỹ của con người - cả về linh hồn lẫn thể xác luôn là khát vọng muôn đời của các cộng đồng nhiều dân tộc trên đất nước ta, trong đó có cả người Thái ở Nghệ An. Chính khát vọng này đã làm phong phú và tô điểm thêm cho ý nghĩa tề từ páotrong tiếng Thái. Từ một thành ngữ “mứa Láo” thông thường, khi vô tình được chuyển sang một tầng nghĩa liên quan đến cõi vĩnh hằng, đến sự gột rửa cho thanh sạch cả tâm hồn và thể xác, hiển nhiên phải có một dòng sông đảm nhận sự kiện páocho số kiếp của con người.
Có một thành ngữ khác của người Thái: Nậm Pề Nậm Páo.Theo ý nghĩa của thành ngữ này dòng Nậm Páo giữ vai trò thứ hai, chỉ sau biển lớn (biển Đông). Duy chỉ có dòng Nậm Páo là án ngữ trên con đường dẫn dắt tâm thức người Thái ở Nghệ An đến với xứ sở Lào cực lạc một thời trong tâm tưởng.
Vậy nên, có thể dẫu chỉ là một con sông bình thường, kể cả là một dòng sông không tên tuổi, khi được chọn làm nơi gột rửa bụi trần trên con đường hướng đến miền cực lạc trong tâm thức tự thuở xa xưa, nhờ vậy mà con sông được mang tên Nặm Páo, cái tên ngân vang trong mỗi lễ nghi cổ truyền của người dân Thái ở Nghệ An.








