Điều trị nội khoa u xơ tử vung
Nói chung, đại cương u xơ tử cung là gì?
Là những u lành tính của tử cung người, sinh ra tế bào cơ trơn. Tỷ lệ toàn bộ u xơ tử cung tăng bắt đầu từ tuổi 30; khoảng tuổi giữa 40 và 50 tỷ lệ là độ 25% số phụ nữ có thể mắc phải. Trên 50 tuổi có thể phân nửa số phụ nữ đều bị u xơ tử cung. Trước tuổi dậy thì bé gái không mắc phải. Sau khi mãn kinh, u xơ tự nó thoái bộ, nếu không dùng hormon nhân tạo thay thế hormon buồng trứng.
Triệu chứng thường kết hợp với u xơ là rong kinh gây nhiều phiền toái và bệnh thiếu máu thiếu sắt. Bệnh có thể gây rối loạn sinh sản, khoảng độ 2 - 3 trường hợp; nguy cơ vô sinh gia tăng nếu u xơ gây biến dạng khoang tử cung.
Hiện nay không có thuốc làm tan u xơ.
Do đó, không triệu chứng là không dùng thuốc, mà cũng không điều trị ngoại khoa. Trong trường hợp có triệu chứng, điều trị nội khoa ngắn ngày (dưới 6 tháng) và chỉ nhằm các triệu chứng liên hệ với u xơ.
Trong thực tễ lâm sàng gặp trường hợp nào?
U xơ không triệu chứng dưới 10cm
Đây là trường hợp thường gặp nhất: không triệu chứng tức không rong kinh, không đau, không ép (bàng quang hay đại tràng). Không cần theo dõi bằng lâm sàng hay siêu âm, tức “không đi khám”.
U xơ dưới niêm mạc có triệu chứng
Không dùng thuốc mà có chỉ định ngoại khoa, không cần phải lưu ý đến tình trạng nội mạc tử cung. U xơ vừa (dưới 4cm) kỹ thuật quy chiếu là cắt bỏ bằng nội soi tử cung.
U xơ kẽ và/ hoặc dưới thanh mạc có triệu chứng
Mục tiêu điều trị là nhắm vào nội mạc, nếu có kèm theo rong kinh, chớ không phải chính u xơ. Cần điều trị chảy máu chức năng kèm theo (xem phác đồ điều trị đăng ở mục “Thực tiễn”).
Dùng thuốc gì trong nội khoa
Các thuốc sinh progesteron
Các thuốc sinh progesteron (2) không làm giảm khối lượng u xơ và không ngăn chặn chúng phát triển. Chúng chỉ có tác động vào phần phù nề quanh u xơ. Chỉ định duy nhất là những nội mạc tử cung kèm theo u xơ như tăng sản nội mạc gây rong kinh; thời gian điều trị là từ 3 – 6 tháng. Nếu mắc lại hay chảy máu chức năng, nghiên cứu cách điều trị (nội hay ngoại khoa).
Các thuốc chống huỷ fibrin
Các thuốc chống huỷ fibrin (3) có hiệu nghiệm trong rong kinh chức năng được dùng khi ra huyết.
Kháng viêm không steroid
Theo tài liệu chỉ thấy có axit mefenamic ( Ponstyl) là được phép dùng trong rong kinh chức năng.
Chảy máu cấp trong u xơ tử cung, dùng thuốc gì?
Các chuyên khoa thoả thuận dùng các thuốc sau đây mặc dù trong giấy phép chính thức cho bán trên thị trường không có ghi: uống một liều duy nhất 4mg estradiol (4), ít được dung nạp tốt bằng dán trên da nhiều patch (5) cho đủ 100 μg estradiol. Tất cả đều dùng liều duy nhất. Có thể thêm axit tranexamic ( Exacyl, Spotof).
Trong lâm sàng có nhiều trường hợp đặc biệt:
U xơ và thuốc chống thụ thai
Không có chống chỉ định dùng thuốc chống thụ thai nếu có u xơ
U xơ và điều trị mãn kinh bằng hormon thay thế
Không có chống chỉ định bắt đầu điều trị hay đang điều trị. Có thể u xơ tiếp tục phát triển nhưng hình như không tạo ra triệu chứng lâm sàng. Trong trường hợp rong kinh hoặc đau bụng dưới, được khuyên tìm căn nguyên mà không ngưng dùng hormon thay thế đang dùng để điều trị mãn kinh.
U xơ và vòng tránh thụ thai
Trong u xơ dưới niêm mạc chống chỉ định dùng tuyệt đối.
Điều trị hoại tử u xơ
Hoại tử thường xảy ra trong trường hợp các bà mẹ mang thai. Được khuyên dùng thuốc giảm đau. Thai kỳ trước 6 tháng (24 tuần lễ tắt kinh) có thể dùng ngắn ngày kháng viêm không steroid. Dĩ nhiên, người bệnh phải được điều trị tại chuyên khoa.
U xơ và vô sinh
Trong khám vô sinh, nếu phát hiện u xơ tử cung, được khuyên tiếp tục làm tổng kê đầy đủ cả ở phụ nữ cũng như ở người hôn phối, không ngưng ngang ở chẩn đoán u xơ tử cung.
U xơ to (trên 10 cm) không triệu chứng
Tuỳ ý kiến chuyên môn: dứt khoát không dùng thuốc.
U xơ và thai nghén
Chính khoa sản chỉ định có nên thực hiện thêm siêu âm hay không.
Chú thích
1. Cục Vệ sinh An toàn Sản phẩm Y tế Pháp gồm chính quyền và chuyên môn hành nghề thực tiễn phổ biến rộng rãi thường xuyên những “lời khuyên để thực hành lâm sàng tốt ”, thật ra là đạo luật về chuyên môn mà không được vi phạm. Thí dụ như trong bài này “u xơ không triệu chứng là không điều trị nội khoa cũng như ngoại khoa”.
2. Thuốc sinh progesteron: tên dùng chung cho tất cả chất sinh hormon steroid: vi lượng, thuốc sinh progesteron nam, thuốc sinh progesteron chống ung thư (Farlutal, Depo – Prodasone, Megace)… Về vi lượng, xem chi tiết trong phác đồ điều trị đăng tiếp sau.
3. Fibrin: là một globulin có dây, màu trắng, không tan, hình thành nhờ fibrinogen và thrombin.
Thuốc chống fibrin: axit tranexamic: Exacyl, Spotof; Aprotinin: Trasylol
4. Estradiol: loại uống có nhiều, nhưng hàm lượng thấp 1 - 2mg: Estreva, Oromone, Provames, Estrofem, Progynova…
5. Patch: băng keo có tẩm hormon; trong trường hợp này dùng loại tẩm oestrogen để hormon chui xuyên qua da đủ 50 hay 100 μg, vì bình thường các patch: Dermestril, Femsept, Climara, Estrapatch để dùng ngừa thụ thai nên có hàm lượng thấp trong mỗi patch.








