Đê bao triệt để: nên hay không?
Thiếu nước... vỡ bờ?
Trong tổng số gần 14.000 héc ta lúa bị thiệt hại nặng do rầy nâu và nhiễm bệnh vàng lùn, vàng xoắn lá ở tỉnh Đồng Tháp, riêng huyện Tháp Mười đã chiếm hơn 8.000 héc ta. Trong nhiều nguyên nhân thì việc khai thác đất liên tục trong năm và đê bao ngăn lũ triệt để được các nhà khoa học nhắc đến nhiều nhất và đó cũng là điều được cảnh báo từ lâu.
Mới đây, UBND huyện Tháp Mười đã yêu cầu nông dân sau khi thu hoạch chạy lũ vụ lúa này, không được gieo sạ tiếp lúa thu đông và phải cho xả lũ ngập đồng ít nhất một tháng. Theo dự tính, diện tích được “đón lũ” trước mắt khoảng 6.000 héc ta và tùy tình hình thực tế, có thể tăng dần khi vào cao điểm lũ.
Trước đó, theo ông Huỳnh Thế Năng, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang: “Một số diện tích nằm trong vùng đê bao khép kín của huyện Chợ Mới sẽ được đón nước tràn vào trong mùa lũ năm nay”. Chợ Mới là địa phương đầu tiên xây dựng đê bao khép kín trước đây và có nhiều tiểu vùng từ 6-8 năm nay không có lũ. Theo UBND huyện Chợ Mới, ngành nông nghiệp sẽ lên lịch xả lũ cụ thể tại các tiểu vùng Long Kiến 3, từ An Thạnh Trung 1 đến An Thạnh Trung 8, Hòa An 1 đến Hòa An 9... để nông dân chủ động, tránh ảnh hưởng đến hoa màu và việc chăn nuôi. Tuy nhiên, trong thời gian “thí điểm”, việc xả lũ được Ban quản lý theo dõi sát sao nhằm tránh việc tự ý xả lũ gây ngập úng ở những vùng chưa đảm bảo điều kiện đón lũ.
An Giang đang có tới 335 tiểu vùng có đê bao. Trong đó có 232 tiểu vùng có đê bao kiểm soát lũ triệt để với trên 90.500 héc ta được nông dân tận dụng trồng lúa vụ ba. Năm rồi, hàng loạt nông dân ở các huyện Tân Châu, Chợ Mới đã lên tiếng về tình trạng ngăn lũ khiến đất bị suy thoái, tồn dư nhiều chất thải hữu cơ và xác thực vật... Nguy hại hơn là do nông dân được tạo tâm lý an toàn trong mùa lũ, nên canh tác lúa liên tục - có vùng sản xuất 7 vụ/2 năm, tạo ra môi trường thuận lợi cho sâu bệnh sinh sôi.
Theo ông Năng, hiện nay UBND tỉnh đang khuyến cáo nông dân sản xuất 3 năm/8 vụ nhằm tạo điều kiện cho đất “nghỉ” và đón lũ, rửa đất, triệt sâu bệnh, tăng độ phì nhiêu nhờ phù sa từ dòng lũ. Đồng thời, sẽ tìm giải pháp hữu hiệu để quy hoạch vừa phải vùng được kiểm soát lũ để diện tích lúa vụ ba chỉ còn tối đa là 70.000 héc ta.
Đê bao và làm lúa vụ ba - lợi bất cập hại
Theo đề tài “Nghiên cứu tác động đê bao đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường tại một số khu vực có đê bao ở tỉnh An Giang” của ông Dương Văn Nhã, cán bộ khoa Nông nghiệp (trường Đại học An Giang), 60% các lãnh đạo địa phương qua phỏng vấn cho rằng đê bao triệt để sẽ tạo nhiều thuận lợi so với không bao đê hoặc chỉ bao đê tháng 8 (đê bao lửng, ngăn lũ khoảng một tháng trong lúc chờ thu hoạch dứt điểm sau đó cho lũ tràn vào). Nông dân - người chịu tác động trực tiếp từ lũ cũng có đến 77% cho rằng bao đê có lợi. Điều này lý giải vì sao nhu cầu bao đê triệt để ở ĐBSCL ngày càng cao.
Trong khi đó, 13/13 nhà khoa học là trưởng các ngành về đất, thủy sản, chăn nuôi, trồng trọt và kinh tế thuộc các trường đại học ở khu vực ĐBSCL khi được tham vấn đều không ủng hộ việc bao đê triệt để. Theo họ, mặt lợi của loại đê bao này không nhiều nhưng tác hại về ô nhiễm, thoái hóa đất, lưu tồn độc chất trên đồng ruộng và dịch hại sẽ gia tăng dần qua từng năm... Do đó, 9/13 nhà khoa học ủng hộ chỉ bao đê tháng 8, số còn lại cho rằng không nên bao đê mà chấp nhận quy luật tự nhiên. Nhìn chung, các nhà khoa học đều cho rằng nên cân nhắc kỹ, phải quy hoạch hợp lý đê bao vùng, bố trí cây trồng, thời vụ phù hợp và tính toán hiệu quả kinh tế của việc bao đê vì phải đầu tư kinh phí quá lớn...
Thực tế khảo sát tại các vùng đê bao triệt để, theo ông Nhã, lợi nhuận từ canh tác lúa vụ đông xuân và hè thu sau một thời gian bao đê đã có dấu hiệu giảm. Phần lớn các nơi đều phải tăng chi phí phân bón nhưng năng suất lại giảm so với lúc chưa có đê bao. Như ở vùng Phú An (huyện Phú Tân, tỉnh An Giang), sau ba năm bao đê năng suất vụ đông xuân giảm 1,16 tấn/héc ta, hè thu giảm 0,79 tấn/héc ta...
Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước cũng cho thấy nồng độ BOD 5 ở khu vực bao đê từ sáu năm trở lên đã có dấu hiệu tăng dần, gấp 2,5 lần mức cho phép. Đồng thời, nồng độ ammonia và lân gấp 14 lần so tiêu chuẩn Việt Nam ... Chất hữu cơ trong đất ở An Giang thuộc loại trung bình từ 3,1-5%, nhưng theo báo cáo của Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam, nay đã giảm đến 1,84% một phần cũng do việc không có lũ tràn vào.
Lợi ích dễ thấy nhất của đê bao triệt để là giúp nông dân làm được lúa vụ ba. Nhưng theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang, chất lượng lúa các vụ ba gần đây giảm sút, tỷ lệ sâu bệnh chiếm 20,5- 52,7% so với diện tích xuống giống và có dấu hiệu tăng dần. Riêng lúa vụ ba trong năm 2005, diện tích nhiễm bệnh chiếm 47,6% diện tích xuống giống... và một số nông dân ở huyện Châu Thành đã “khiếu nại” vì buộc phải xuống giống vụ ba, trong khi chi phí vụ này quá tốn kém, không hiệu quả.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 33-2006







