Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 19/03/2009 15:48 (GMT+7)

Dấu tích mỹ thuật Chămpa trên cố đô Hoa Lư

Khi các nhà khảo cổ tìm thấy trong Hoàng thành những đầu tượng rồng bằng đất nung rất giống các con thuỷ quái Makara, các con phượng hao hao những con ngỗng Hamsa, chúng ta càng có thêm cơ sở để hình dung rằng, trong số rất nhiều tù binh được các nhà vua Lý - Trần bắt về, có những người thợ Chămpa tài hoa. Quanh kinh thành Thăng Long cho đến nay vẫn còn nhiều tên đất, tên làng, những truyền thuyết gắn bó với người Chămpa. Chúng ta không biết chính xác số người Chăm trong từng thời kỳ lịch sử, nhưng đã có lúc hẳn là không ít. Từng có một ông vua Trần ra lệnh cấm nói tiếng Chămpa, từng có một hoàng thân nhà Trần cưỡi voi tới khu vực người Chăm gần kinh thành chơi liền ba ngày.

Xét về vị trí địa lý, Hoa Lư gần với Thăng Long hơn, lại gần kề với biển. Đến nay chúng ta chưa có nhiều những chứng cứ khảo cổ để xác định mối giao lưu văn hoá Đại Cồ Việt và Chămpa thời Đinh – Lê. Nhưng sau cuộc chiến năm 982 của Lê Hoàn, hai bên đã ít nhiều xác lập được mối bang giao hoà hiếu. Trên cố đô Hoa Lư từng có hai ông vua mang hai dòng máu Chămpa, vua Lê Trung Tông và vua Lê Long Đĩnh. Một di nữ (theo Đại Việt sử lược) là một trong 5 hoàng hậu của vua Lê Đại Hành đã sinh hạ cho đời Tiền Lê hai ông vua đoản mệnh. Theo năm sinh của Trung Tông và Long Đĩnh, ta có thể chắc chắn người di nữ đó là một trong số các chiến lợi phẩm sau cuộc “bình Chiêm” năm 982. Truyền thuyết ở Hoa Lư còn nhắc đến câu chuyện “quả khế Chiêm Thành” trong vườn thượng uyển của vua Lê Ngoạ Triều là do người xứ Chiêm Thành cúng tiến.

Trong đền vua Lê trước đây có đôi tượng phỗng Chàm. Tiếc là nay đã không còn. Nhưng thông qua cách tiếp cận phong cách học nghệ thuật, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy những dấu ấn Chămpa nơi đây. Những khảo cứu của chúng tôi tập trung vào những đồ án như: những bàn tay, hình sư tử, lực sĩ trên mặt sập rồng, cặp tượng nghê đá, rồng đá.

Hình ảnh những cánh tay

Hình ảnh những cánh tay như của các vũ nữ Chăm trên mặt sập đá đền vua Đinh là một chuyện lạ. Tạo hình người Việt không có truyền thống khai thác sự biểu cảm của các thế tay. Trung Hoa cổ cũng vậy. Hoa Luận Trung Hoa có nói việc vẽ tay người là khó nhất. Cả người Việt và người Hán đều đã học hỏi được rất nhiều vũ đạo của Ấn Độ và Tây vực. Vũ đạo Trung Hoa chỉ từ đời Đường mới khai thác nhiều sự uyển chuyển của bàn tay cho đến các ngón tay. Chắc hẳn những điệu múa của các vũ nữ Chămpa với những điệu múa Tây Thiên đã làm mê đắm bao nhiêu ông hoàng Đại Việt. Sử có ghi năm Minh Đạo thứ ba (1045), vua Lý đánh vào thành Phật Thệ, bắt các vợ cả, vợ lẽ của vua Chiêm Thành cùng các cung nữ giỏi hát múa điệu Tây Thiên.

Sư tử

Sư tử không có ở cả Trung Quốc và Việt Nam . Cho nên đồ án sư tử của Trung Hoa và Đại Việt đều khá xa với nguyên mẫu thực tế. Nhưng trong mỹ thuật Chămpa thì sư tử hiện lên rất sinh động và cũng khá gần với cấu tao thực. Cho nên, chúng tôi có nhận định rằng đồ án sư tử trên sập đá đền Đinh theo phong cách tả thực là có nguồn gốc Chămpa. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có ghi người Chiêm Thành năm Thuận Thiên thứ hai (1011) dâng sư tử. Mô tip thanh long - bạch hổ, long - phượng đã là mẫu mực thì không lẽ gì người ta lại khắc hình rồng múa với sư tử.

Những con nghê có khuôn mặt của các Dvarapala (hộ pháp)

Trong tín ngưỡng và nghệ thuật Chămpa, không có con vật nào giống với con nghê cả. Chó là con vật không có chỗ đứng trong cả Ấn Độ giáo và Phật giáo. Hiện tượng con nghê đá trước nghi môn ngoại có tạo hình giống với tượng Dvarapala ở Tháp Mẫm ở những điểm sau: mắt to, mũi khoằm, râu xoăn tít,… Tóm lại là những đặc điểm nhân chủng của người Đa đảo được thể hiện qua phong cách Ấn Độ. Cho nên nói cho thật đúng, cặp nghê này có tạo hình không chỉ giống với một bức tượng hộ pháp Chămpa nào đó, mà vì nó mang hơi thở của nghệ thuật Ấn Độ, nên nó còn rất giống với nhiều bức mặt nạ các nhân vật sử thi trong các điệu múa cung đình ở Lào, Thái Lan.

Cũng có thể với người Chăm, những niềm tin thành kính được họ chắt chiu trong từng nhát đục nên ta luôn cảm thấy được sự thiêng liêng trên từng pho tượng. Cặp nghê đá hai bên Nghi môn ngoại được khuôn lại trong cái dáng ngồi tĩnh. Cái lưng khom khom trông rất đỗi thân quen và trìu mến.

Cặp nghê đã nhuốm màu thời gian, rêu phong và lặng lẽ. Sự khiêm nhường của nó vô tình làm nhiều nhà nghiên cứu bỏ qua và các du khách thờ ơ trong các bức hình lưu niệm. Ở đền vua Đinh, hai cặp nghê đá có hai phong cách nghệ thuật với hai niên đại nghệ thuật không đồng nhất. Sự khác biệt về phong cách ở đây là sự phai nhạt phong cách Chămpa trong hệ thống điêu khắc đền vua Đinh – vua Lê. Cặp nghê đá hai bên bái đường là sự chuyển tiếp sang phong cách Trung Hoa. Cặp nghê đá này cũng là một tác phẩm điêu khắc đá xuất sắc. Nhưng gió đã bắt đầu nổi lên, các khối lông bờm đã bắt đầu bồng hơn. Người Trung Hoa đặc biệt thích gió (phong). Xin được nói thêm, phonglà một thuật ngữ quan trọng trong văn hóa Trung Hoa. Một người phương Tây sẽ rất khó hình dung tại sao trong các từ chỉ dạng thức nghệ thuật (phong cách), truyền thống tập tục (phong hoá), sự lẳng lơ (phong tình), sự uy nghi (oai phong), dáng vẻ bên ngoài (phong mạo) đều có liên quan đến chữ phong.

Những con rồng, con lân, con long mã, con nghê Trung Hoa thường thấy với những búi bờm hất tung lên, xoắn xuýt cuồn cuộn. Trong thành ngữ tiếng Hán, khi chỉ một nhân vật có thế lực đầy quyền uy, người ta chỉ cần nói phong lưu nhân vật. Con nghê ở đây (bên trong) đã không còn dấu ấn nhân chủng Chămpa. Sống mũi không còn khằm, tai không tròn nữa. Xem lâu cặp nghê đá bên ngoài Nghi môn ngoại, ta thấy có bóng dáng con người trong đó.

Mặt thao thiết – Kala

Trên sập đá ở hai đền vua Đinh vua Lê có rất nhiều khuôn mặt thú hung dữ. Người Việt chúng ta gọi nó là thao thiết. Một con vật hung dữ khắc theo thần thoại Ấn Độ là con Kala. Có một điểm tương đồng về vị trí của các thao thiết trên các sập đá cũng giống như các hình phù điêu Kala trên mặt trước của các bệ ngồi của các tượng thần, tượng La Hán. Đặc biệt là thao thiết trên sập đá ở đây cũng có những dải hoa lá đi ra từ hai bên mép như của các Kala ở điêu khắc Chămpa.

Ở bốn chân của sập đá lại còn có bốn khuôn mặt lực sỹ điển hình nhân chủng Ấn hệ là mũi khoằm, râu xoăn, mắt to rõ vành. Trên các đồ minh khí hay gia dụng Trung Hoa rất hiếm khi xuất hiện các khuôn mặt người.

Tượng rồng

Rồng đá ở đền vua Đinh
Rồng đá ở đền vua Đinh
Trong vô số các đồ án rồng Trung Hoa, người ta rất ít thậm chí gần như không có những bức tượng rồng tách khỏi các cột trụ hay các dầm xà. Ở Trung Quốc, trên đường ngự đạo thường có tấm đálớn khắc các bức phù điêu long vân hay lưỡng long tranh châu. Ví dụ bức bệ rồng ở Cố cung là một phiến đá nguyên khối cực lớn (17m x 3m). Ngoài ra còn có những bức Cửu long bích đồ rất hoành trángnhư ở trong hoàng thành Bắc Kinh và Đại Đồng (tỉnh Sơn Tây). Vậy nhưng Trung Quốc lại rất ít làm những tượng rồng độc lập. Việt Nam vẫn còn lại cho đến nay những cặp tượng rồng to lớn uốn lượn trêncác bậc thềm như ở đàn Nam Giao, Hà Nội (thế kỷ XIV), Lam Kinh, Thanh Hoá (thế kỷ XIV) và ở các lăng tẩm cung điện Huế (thế kỷ XVIII – XIX). Những con rồng đá làm lan can này mang truyền thống củaChân Lạp và Chiêm Thành. Thế nên ở đây, tại đền vua Đinh cũng có hai đôi rồng đá khắc rất sống động. Những đôi rồng đá xuất hiện từ những gợi ý của các con Makara trên các lan can ở các đền thờ (mặcdù được tạc theo phong cách rồng đời Minh Trung Quốc).

Phượng hoàng

Đây cũng là một đồ án rất quen thuộc với người Việt. Vậy nhưng tại sao trên trán bia khắc năm Chính Hoà thứ 17 lại khắc hình con phượng như hình con ngỗng. Chúng tôi ngờ rằng đây là một sản phẩm gia công chế từ con ngỗng thiêng Hamsa thành con chim phượng hoàng - một hiện tượng văn hoá chứ không phải là do sự non nớt của người thợ. Chúng ta nghĩ sao khi mà đề tài tứ linh chỉ thực sự nở rộ vào đời Nguyễn? Khi mà toàn bộ hệ thống đồ án điêu khắc trên gỗ ở hai đền vua Đinh – vua Lê (từ thế kỷ XVI đến XVII) không hề có một đồ án chim phượng nào? Và chúng ta nghĩ sao khi cả hai đền vua Đinh Lê đều có đôi xà ngỗng đẹp hết sức?

Ngôn ngữ điêu khắc

Bản vẽ hình Kala trên sập đá đền vua Đinh
Bản vẽ hình Kala trên sập đá đền vua Đinh
Phong cách Chămpa không chỉ hiện diện trên khuôn mặt con nghê, con phượng, con sư tử mà còn ghi dấu rõ nét trên cách tạo khối, phương thức xử lý bề mặt chất liệu đá. Các nghệ sỹ Chămpa thườngmiên man trên những bề mặt nhẵn lì rồi bất thần làm ta rộn lòng với những đường nét trang trí rất tinh tế. Khi xem nghệ thuật điêu khắc Chămpa, tôi cảm thấy như đang đứng trước những bãi biển phẳnglì ở Aya Trang (Nha Trang) hay Phanrik (Phan Rí) ngắm những con sóng lăn tăn. Cái cảm hứng đại dương trong nhịp điệu của đường nét trên các pho tượng thật sâu lắng. Nghệ thuật Chămpa cũng như các nềnnghệ thuật ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Độ khác, khi tạc người hay các con thú, không mấy bận tâm tới trang phục hay đám lông mao, vì vẩy của động vật – như cách làm thường thấy trong nghệ thuật TrungHoa. Người Trung Hoa say mê gió nên họ rất muốn nhờ những râu bờm, vi vẩy để tả cái gió (khí) nổi lên cuồn cuộn. Còn người Chiêm Thành sống cùng bão tố từ đời này qua đời khác nên họ thích sự mịnmàng của những bờ cát chạy dài suốt dải miền Trung. Nếu phải lựa chọn dấu ấn Chămpa nào là đậm nét nhất ở Hoa Lư, tôi sẽ chọn cặp nghê đá bên cạnh nghi môn ngoại. Nghệ thuật điêu khắc Chămpa làmchúng ta nghĩ tới câu ngạn ngữ Italy , đại ý rằng chỉ được nhìn mà không được sờ thì là chết. Hãy thử đặt tay lên trên lưng nghê, nhắm mắt lại, từ từ đưatay thưởng thức tác phẩm điêu khắc này, chúng ta sẽ không ngờ rằng đá lại có thể ấm và mềm như thế.

Trong cuốn sách Nghệ thuật Đông Nam Á (1) của Lang Tianyong (Lương Thiên Vịnh) ngay phần mở đầu về mỹ thuật Việt Nam có in đậm dòng chữ: “Những ảnh hưởng của miền đất Hán trong văn hoá Việt Nam thời viễn cổ - Khởi nguyên Chămpa - Kiến trúc và nghệ thuật Chiêm Thành - vẻ đẹp của gốm sứ Việt Nam”. Câu đó ngụ ý rằng văn hoá Hán – Chăm đã là hai dòng chảy đi suốt một chặng dài trong lịch sử văn hoá Việt Nam . Chất văn hoá Chăm trong văn hoá Việt đôi khi bị phủ lấp bởi văn hoá Hán, làm cho chúng ta không thấy hết cái duyên nợ với Chămpa trong trường kỳ lịch sử. Khác với cuốn Du khảo văn hoá Chăm (2) của hai nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kự và Ngô Văn Doanh trên dải đất Chiêm Thành xưa, chúng tôi lại muốn được dẫn dắt mọi người vào cuộc thám hiểm văn hoá Chăm ngay tại kinh đô Hoa Lư, kinh đô đầu tiên của nước Đại Cồ Việt.

______________

1. Lang Tianyong, Nghệ thuật Đông Nam Á , Nxb Giáo dục, Hà Bắc (Trung Quốc), 2003.

2. Nguyễn Văn Kự, Ngô Văn Doanh, Du khảo văn hoá Chăm , Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.
Đảng ủy VUSTA trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng)
Ngày 27/3, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 03/02/2026 và Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ (mở rộng). Sự kiện không chỉ là dịp ghi nhận những cống hiến của các đảng viên lão thành mà còn là diễn đàn quan trọng đánh giá kết quả công tác Quý I, nhiệm vụ trọng tâm Quý II/2026 của Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam.
VUSTA kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập, đánh dấu một hành trình kiến tạo và cống hiến bền bỉ
Chiều ngày 26/3, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và chuỗi các hoạt động đặc biệt chào mừng kỷ niệm 43 năm Ngày thành lập (26/3/1983 - 26/3/2026). Sự kiện là dấu mốc ý nghĩa ghi dấu hành trình hơn bốn thập kỷ kiến tạo và cống hiến của VUSTA – ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam.
Bí thư Đảng uỷ VUSTA Châu Văn Minh thăm và làm việc với Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)
Chiều ngày 25/3, GS.VS. Châu Văn Minh – Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) dẫn đầu đoàn công tác đã đến thăm và làm việc với ban lãnh đạo cùng đội ngũ cán bộ, người lao động của Quỹ Hỗ trợ Sáng tạo Kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC).