Đáp án “Đố bạn nguyên tố nào”
1. Nguyên tố sắt
Sắt tự do chỉ có trong thiên thạch. Ở trạng thái tự nhiên, hợp chất của sắt có mặt hầu khắp các quặng đa kim. Người ta điều chế từ gang để được thép có tỷ lệ cácbon ít hơn (dưới 2%) bằng ba phương pháp: Mactanh, Betxơme, Tomat.
2. Nguyên tố heli
Mặt trời chứa một lượng lớn heli. Heli là nguyên tố nhẹ thứ hai (sau hydro) nên dùng để bơm vào khinh khí cầu. Nó là chất khí trơ nên không tham gia các phản ứng với các chất oxi, clo… gây nên cháy nổ như hyđrô.
Hỗn hợp của heli với oxi dùng để chữa bệnh hen, ngạt thở, dùng cho người ở dưới hầm mỏ sâu hoặc lặn dưới nước thở.
3. Nguyên tố liti
Li ti là từ láy trong tiếng Việt - nhỏ li ti. Liti là nguyên tố đứng đầu phân nhóm chính nhóm I. Nó hoạt động hoá học yếu nhất trong các kim loại kiềm. Hầu hết các loại muối của các kim loại kiềm khác đều tan trong nước thì một vài loại muối của nó (phốt phát, cacbonat, florua) khó tan trong nước.
Hợp kim của liti với nhôm, kẽm, đồng, mangan, silic… giống dura nhôm, dùng để chế tạo máy bay.
4. Nguyên tố franxi
Franxi đứng cuối cùng của phân nhóm chính nhóm I, là kim loại hoạt động mạnh nhất. Pêray người Pháp đã tìm ra franxi trong quá trình phân rã phóng xạ của actini. Bản thân franxi cũng là chất phóng xạ.
5. Nguyên tố xezi
Khi bị chiếu sáng xezi dễ mất ngay electron. Người ta dựa vào tính chất này của nó để chế tạo tế bào quang điện.
Khi nhiệt độ lên tới 28,5 0C thì xezi bắt đầu nóng chảy.
6. Nguyên tố rubidi
Rubidi đứng thứ tư trong phân nhóm chính nhóm I. Nó do R. Bunxen và Gustav Kirchhoff (người Đức) tìm ra năm 1861. Nó có khối lượng riêng là 1,53 g/cm 3. Cũng như một số kim loại kiềm khác, nó có màu trắng bạc, có ánh kim.
7. Nguyên tố vàng
Ngay từ thời xa xưa con người đã biết dùng vàng làm đồ trang sức. Vàng nguyên chất rất mềm, vì vậy người ta nấu chảy vàng với bạc, đồng để chế tạo hợp kim. Từ vàng kim loại người ta chế ra máy, bình điện cực dùng trong hoá học. Vàng dùng để điều chế một vài loại thủy tinh màu trong đó vàng ở thể keo.
8. Nguyên tố coban
Coban do Branđơ người Thuỵ Điển tìm ra năm 1735. Lượng coban chủ yếu dùng để chế thép và hợp kim, đặc biệt là mũi khoan. Mũi khoan bằng hợp kim này thay thế một phần cho những mũi khoan bằng kim cương. Muối coban trong công nghiệp silicat làm chất màu.








