Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 10/12/2008 15:15 (GMT+7)

Danh sĩ Phạm Đình Toái và tác phẩm Đại Nam quốc sử diễn ca

Một ông quan cương trực, biết làm kinh tế     


Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu - Nghệ An quê ông là một làng khoa bảng nổi tiếng cả nước. Đương thời có câu: “Bắc Hà Hành Thiện, Hoan Diễn Quỳnh Đôi”. Trong suốt lịch sử giáo dục, khoa cử Nho học (1075-1919), làng Quỳnh có đến 9 tiến sĩ, 5 phó bảng, và hàng trăm cử nhân, tú tài, trong đó có những học giả xuất sắc như Hồ Sĩ Dương (1622-1682), Hồ Sĩ Đống (1729-1785)… Thân phụ ông là Hương cống Phạm Đình Trọng (đậu năm 1813) là một nhà giáo nổi tiếng hay chữ, làm quan đến chức Đốc học, có nhiều học trò đậu cử nhân, phó bảng, tiến sĩ. Khi làm giám khảo trường thi Thanh Hoá, Phạm Đình Trọng không chịu khuất quan đầu tỉnh định tư túi mà mất chức. Cũng ngẫu nhiên trong thời gian ấy, ông thông gia với ông và cũng là người Quỳnh Đôi - Phó bảng Hồ Trọng Điển làm Đốc học và giám khảo trường thi Nghệ An cũng bị chuyển công tác vì lý do tương tự.


Chịu ảnh hưởng bản tính của cha, của cả người dân xứ Nghệ, Phạm Đình Toái luôn luôn cương trực nên không được lòng quan trên. Sau khi đậu cử nhân (năm 1843) ít lâu, ông được bổ làm quan ở nhiều nơi, từ Sơn Tây đến Quảng Ninh, Bình Định, Kinh đô, giữ nhiều chức vụ từ Huấn đạo, Tri huyện, Tri phủ, Án sát, Bố chánh, Quản đạo, đến Ngự sử viên ngoại lang. Hàm cao nhất là Tứ phẩm. Hai lần ông bị biếm chức. Lần đầu (1865) khi còn làm việc ở Kinh đô, do bất đồng với phái chủ hoà Phan Thanh Giản, ông bị đẩy đi chống dịch tễ ở Quảng Nam . Không lâu sau đó, ông được khôi phục làm Tri huyện, rồi Quản đạo ở Quảng Trị. Lần sau, khi ông đang dưỡng bệnh ở quê nhà, xảy ra vụ việc các họ kiện cáo tranh chấp nhau trong việc phong Thành hoàng làng, có người lợi dụng tố cáo ông cho người làng quê mình xây đình cao hơn điện Thái Hoà của vua. Vì việc này ông bị giáng hai cấp. Bấy giờ, ở nhiều nơi giặc cướp nổi lên làm cho dân tình khốn khổ, ông xin mộ quân đi dẹp yên, do đó mới được phục chức Tri phủ Lâm Thao, rồi Án sát Sơn Tây.

 
Mùa thu năm 1872, đang nghỉ hưu ở Hà Nội, nhân một chuyến về quê, có mấy người cùng tổng đến đề nghị ông giúp đỡ tiền của và đứng chủ trì khai hoang một vùng chua mặn ở cách làng Quỳnh Đôi 5km. Thương dân, ông vui vẻ nhận lời. Ông dời cả nhà sang ở nơi khai hoang. Ông đã tổ chức cho dân ngăn mặn, rửa chua, khai hoang làm nên ruộng vườn tươi tốt. Để có điều kiện chăm lo cho dân vùng đất mới, ông đã bán hầu hết ruộng đất tài sản của mình, còn quyên góp bạn bè và những người hảo tâm. Chưa đến 10 năm đã hình thành nên làng Đồng Xuân với hơn 10 hộ và hơn 30 mẫu ruộng đất. Sống thanh bần giữa những người dân nghèo nhưng lòng ông thanh thản. Ngoài việc chăm lo cho dân sản xuất, ông còn dạy học, bốc thuốc, ngâm vịnh cùng bạn bè. Ông dịch thơ Đào Uyên Minh (365-427) - nhà thơ lớn Trung Quốc thời nhà Tấn mà như làm thơ để nói lòng mình:


“Mái nam ngất ngưởng tựa ngồi

Dừng chân nhà dẫu hẹp hòi cũng yên…

…Giàu sang nào phải lòng ta,

Làng tiên hầu dễ hẹn mà được chưa...”

(Quy khứ lai từ diễn ca)


Năm 1893, đạo sắc vua Thành Thái đánh giá ông “làm việc đầy đủ, học rộng kinh diên, chính sự tài giỏi, một niềm giữ lòng trung, lấy đạo nghĩa chăm mọi việc, nhiều năm khó nhọc, giúp rập hết tài năng”. Vua thừa nhận “một chốc hiểu lầm, nghe lời tấu bậy” và quyết định khôi phục nguyên hàm cho ông, lại còn ban cho ông 4 chữ tỏ lời khen: “Hiếu học, hành thiện” (Nguồn: http://www.hopham.org ).


Một nhà thơ tài năng rất yêu tiếng Việt


Tuy không đậu đại khoa nhưng tên tuổi Phạm Đình Toái vẫn thật sự nổi bật không chỉ ở quê hương mình. Ông là người có tài văn chương, sở trường về thơ quốc âm. Theo Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác gia Việt Nam (5, tr.403), Phạm Đình Toái là tác giả Quy khứ lai từ diễn ca, Tấn Đường Tống thi diễn âm, Quỳnh Lưu tiết phụ truyện, Đại Nam quốc sử diễn ca. Theo Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường trong Từ điển văn học Việt Nam (1, tr.83), các tác phẩm của ông đã được xuất bản như Quy khứ lai từ diễn ca (dịch thơ Đào Uyên Minh) in năm 1872; Văn Vũ nhị Đế cứu kiếp chân kinh dịch ca in năm 1880; Trung dung diễn ca (diễn Nôm 33 chương sách Trung dung) in năm 1891; Khuyến hiếu diễn âm ca in năm 1895; Quỳnh Lưu tiết phụ truyện in năm 1900.


Trong khi hiệu đính và giới thiệu tác phẩm Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục (bản dịch của Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Thị Lâm), nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh còn cho biết Phạm Đình Toái là tác giả 3 cuốn đầu Quốc triều Hương khoa lục. “Chính ông - tức Cao Xuân Dục (HSH chú) đã viết trong bài Tiểu dẫn Hương khoa lục rằng mình đã thừa hưởng công trình của Phạm Đình Toái (gồm 3 quyển chép từ khoa năm Đinh Mão, đời Gia Long 1807 đến năm Canh Ngọ, đời Tự Đức 1870) mà cụ thể là bản in năm 1873… và chỉ phải bắt đầu tiến hành toàn bộ việc thu thập và xác minh tư liệu, sắp xếp và biên tập nội dung của tác phẩm này từ quyển IV trở đi” (4, tr.17-18).


Nét đặc sắc ở danh sĩ Phạm Đình Toái là tinh thần tự hào dân tộc, lòng yêu tiếng Việt và thể thơ lục bát. Đề tựa tập Quốc âm từ điệu, ông viết: “…nước ta ở mếch về phương Nam, tiếng nói khác với Trung Quốc, học sinh nho giả dù học tập văn từ của Trung Quốc mà nói năng ca vịnh không xa rời tiếng bản quốc, đâu lại có thể cho chữ Hán là thanh tao mà trở lại chê quốc âm mình là thô bỉ được. Thể lục bát hay không tả hết”. Trên tinh thần trân trọng quốc âm, ông có những lời bình luận xác đáng về Truyện Kiều: “Kim Vân Kiều vần điệu réo rắt, chữ câu điêu luyện, nức tiếng miệng người, cả nước truyền tụng, thật là một tập thơ tuyệt diệu của tiếng Việt ta” (6, tr.181-182).


Đại Nam quốc sử diễn ca - một tác phẩm lịch sử giá trị nhờ công danh sĩ Phạm Đình Toái   


Công phu học tập, trau dồi tiếng Việt cũng như mơ ước “muốn bắt chước noi theo (Kim Vân Kiều truyện) để làm đầy đủ thêm khuôn mẫu cho văn hoá viêm bang” đã được Phạm Đình Toái thể hiện trong các tác phẩm diễn Nôm của mình mà tiêu biểu là Đại Nam quốc sử diễn ca, tác phẩm khiến ông được bạn đọc biết đến nhiều nhất.


Diễn ca lịch sử là một thể loại truyện vừa có tính chất sử học, vừa có tính chất văn học. Từ thế kỷ XVII, đã xuất hiện các tác phẩm có tiếng như Thiên Nam minh giám gồm 936 dòng, viết bằng thể song thất lục bát; Thiên Nam ngữ lục có 8136 dòng, viết bằng thể lục bát kèm theo 31 bài thơ chữ Hán được đặt xen vào sau các đoạn kể về từng thời, từng nhân vật xuất chúng. Nhưng phải đến Đại Nam quốc sử diễn ca, thể loại này mới được biết đến rộng rãi. “Đại Nam quốc sử diễn ca được coi là một tác phẩm lịch sử đích thực, một công trình “diễn ca quốc sử” có giá trị truyền đời, bên cạnh những tác phẩm tên tuổi khác như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục…” (3, tr.219).

 
Thật ra, Đại Nam quốc sử diễn ca là một công trình của nhiều tác giả. Từ năm 1858, Cử nhân Lê Ngô Cát (1827-1875) làm việc ở Quốc sử quán được tiến cử vào việc sửa sách Sử ký quốc ngữ ca và viết xong sử ca trước năm 1860. Bản này được vua Tự Đức khen, ban thưởng cho một tấm lụa và 2 đồng tiền vàng nhưng chưa được đem in. Chính ông Cát đã ghi sự việc đó bằng câu lục bát ngất ngưởng:


“Vua khen thằng Cát có tài,

Ban cho chiếc khố với hai đồng tiền”


Phạm Đình Toái đã dùng tài năng văn học của mình nâng cao giá trị của bản diễn ca do Lê Ngô Cát soạn thảo. Ông rất sòng phẳng trong việc biểu dương thành quả của người đi trước. Trong Lời thuật ông viết: “Quốc sử diễn ca là do quan Án cao Lê Ngô Cát vâng lệnh soạn, quan Hình bộ Thị lang Phạm công Xuân Quế đã nhuận sắc… chép việc đủ mà rõ, không phải chỉ trẻ con đàn bà nơi đồng ruộng đọc lên mà biết, tuy là văn nhân học sĩ cũng thích xem…”. Ông cũng thẳng thắn chỉ ra những chỗ chưa đạt: “Nhưng lời văn phiền phức, người đọc chê là khó nhớ”. Do đó, ông đã gia công biên tập lại. “Tôi không tự lượng, trộm lấy sách ấy mà cắt bớt đi, rồi lại thêm vào những chỗ thiếu và sơ lược… Trải hai lần rét nóng mới xong thành sách, lại được quan Án nam Phan quân Đình Thực và các quan văn khác cùng nhuận chính thêm, so với những bản cũ thì giản dị mà trang nhã hơn… Nguyên bản của Lê Quân là 1887 câu (3774 dòng - HSH chú ), nay uốn nắn, gọt giũa thành 1027 câu, trong đó dùng nguyên tác 396 câu, đổi mới 631 câu”(2, tr.71-72).


Đại Nam quốc sử diễn ca trình bày ngắn gọn những sự kiện lớn của lịch sử dân tộc từ thời Hồng Bàng đến hết đời vua Lê Chiêu Thống (1788). Được viết với mục đích đề cao nhà Nguyễn, tác phẩm còn nhiều hạn chế: không nhìn thấy vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, đánh giá sai phong trào Tây Sơn, lại tỏ ra có cảm tình với quân xâm lược Mãn Thanh… Tuy vậy, nhiều trang tác phẩm diễn tả được lòng yêu nước và tự hào dân tộc của nhân dân ta, lại được thể hiện bằng những câu thơ lục bát nhuần nhị, uyển chuyển nên đã đi vào trí nhớ người đọc bao thế hệ. Các đoạn viết về Phù Đổng Thiên Vương, bà Triệu, Ngô Quyền… và đặc biệt là đoạn viết về Hai Bà Trưng thật cô đúc, khắc hoạ được bóng dáng lẫm liệt của 2 nữ anh hùng trong không khí chiến đấu và chiến thắng vang lừng của họ:


“Bà Trưng quê ở Châu Phong,

Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.

Chị em nặng một lời nguyền,

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.

Ngàn Tây nổi áng phong trần,

Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.

Hồng quần nhẹ gót chinh yên,

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.

Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta...”


Viết theo lệnh vua Tự Đức, các tác giả gọi Tây Sơn là “nguỵ triều”, phải miệt thị Tây Sơn, nhưng khi đề cập đến cuộc hành binh của quân Tây Sơn ra Bắc ngòi bút vẫn tỏ ra khách quan:


“ Ngọn cờ trỏ lối sơn pha,

Hải Vân đồn trấn đâu là chẳng tan!

Cánh buồm đè lớp cuồng lan,

Cát Dinh, Động Hải quân quan chạy dài”

Có những câu thơ đầy hào khí chiến thắng:

“Trực khu đến luỹ Nam Đồng,

Quân Thanh dẫu mấy anh hùng mà đang?

Vua Lê khi ấy vội vàng,

Cùng Tôn Sĩ Nghị sang đàng Bắc Kinh.

Qua sông lại sợ truy binh

Phù kiều chặt đứt, quân mình thác oan”


Nhìn chung, tác phẩm đã kế thừa được tinh hoa của các tác phẩm sử học, văn học như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, thơ vịnh sử của các thi nhân tiền bối…, gây xúc động sâu sắc trong lòng người đọc. Xúc động vì cái đẹp trong thơ, xúc động vì những trang sử đẹp, xúc động vì tình yêu quê hương, đất nước, lòng biết ơn tổ tiên, biết ơn các anh hùng dân tộc.


Tóm lại, Đại Nam quốc sử diễn ca thật sự là một tác phẩm có giá trị trong kho tàng sử học Việt Nam, góp phần quan trọng đưa tên tuổi danh sĩ Phạm Đình Toái - tác giả chủ yếu của nó vào hàng ngũ những danh nhân văn hoá Việt Nam tiêu biểu ./.

Tài liệu dẫn:


(1) Lại Nguyên Ân - Bùi Văn Trọng Cường (1995), Từ điển văn học Việt Nam , Q.I, Nxb Giáo dục.


(2) Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái, (2004), Đại Nam quốc sử diễn ca (Đinh Xuân Lâm - Chu Thiên phiên âm - Khảo dị - Hiệu đính - Chú thích - Giới thiệu), Nxb Văn hoá Thông tin.


(3) Chương Thâu (2003), Đại Nam quốc sử diễn ca và vị thế của tác giả Phạm Đình Toái (1817-1901) in trong cuốn Một số nhân vật lịch sử tiêu biểu, Nxb Chính trị quốc gia.


(4) Cao Xuân Dục (1993), Quốc triều Hương khoa lục, Nxb TP Hồ Chí Minh.


(5) Trần Văn Giáp (2000), Lược truyện các tác gia Việt Nam , Nxb Văn học.


(6) Nguyễn Minh Tấn (CB) (1981), Từ trong di sản…, Nxb Tác phẩm mới.


(7) Đào Tam Tỉnh (2000), Khoa bảng Nghệ An, Nxb Nghệ An.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.