Đánh giá tác động sự cố môi trường biển và đề xuất giải pháp giảm thiểu tác động môi trường ven bờ
Việc nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường vùng biển khu vực huyện Cần Giờ - thành phố Hồ Chí Minh, vùng biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là rất cần thiết để đề ra các biện pháp nhằm giảm thiểu sự cố môi trường, đáp ứng những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong giai đoạn phát triển kinh tế biển trong tình hình mới.
Điều kiện tự nhiên và một số đặc trưng khí hậu khu vực nghiên cứu
Bà Rịa – Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng, tiếp giáp tỉnh ở phía Bắc, ở phía Tây, tỉnh ở phía Đông, còn phía Nam giáp. Với tổng số chiều dài địa giới trên đất liền 162 km. Bà Rịa - Vũng Tàu có chiều dài bờ biển phần đất liền 100 km. Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vị trí rất đặc biệt, đây chính lá cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam bộ hướng ra Biển Đông, có ý nghĩa chiến lược về đường hàng hải quốc tế, có hệ thống cảng biển là đầu mối tiếp cận với các nước Đông Nam Á.
Cần Giờ là một huyện ven biển nằm phía đông nam, cách trung tâm khoảng 50 km. Vào năm 1997, huyện có diện tích 714 km2, số dân là 55.173 người, tập trung phần lớn ở một thị trấn và 6 xã ven biển: Bình Khánh, An Thới Đông, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp, Long Hòa và Thạnh An.
Địa hình khu vực huyện Cần Giờ bị chia cắt bởi sông, rạch, không có nước ngọt. Rừng sác và đước, đất rừng chiếm 46,25% diện tích, đây cũng là khu vực có khá nhiều các cù lao lớn nhỏ. Huyện Cần Giờ tiếp cận với hiện hữu một khu rừng ngập mặn đan xen với rạch dày đặc chứa đựng các hệ sinh thái mang tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài động thực vật đặc hữu của miền duyên hải.
Theo tài liệu thống kê nhiều năm, khu vực nghiên cứu có đặc điểm khí hậu gió mùa cận xích đạo, mỗi năm hình thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô hướng gió thịnh hành là đông và đông Bắc với tốc độ trung bình từ 1.6 - 2.8 m/s. Vùng biển ven bờ gió có hướng đông chiếm ưu thế hơn hẳn với tần suất gần 40%, hướng bắc và đông bắc chỉ chiếm 15 - 25%. Vùng ngoài khơi gió hướng đông bắc chiếm 40%, sau đó là hướng bắc chiếm 11%, các hướng còn lại chỉ chiếm khoảng 1 - 5%. Tốc độ gió cực đại khá lớn, đạt tới 20 m/s ở hướng bắc và hướng đông bắc.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với hướng gió chủ yếu là tây và tây nam, tốc độ trung bình 1.8 - 4.5 m/s, tốc độ gió lớn nhất 14 - 20 m/s. Tổng tần suất của hai hướng này chiếm 70%, các hướng khác chỉ chiếm tần suất trên dưới 5%.
Điều kiện khí hậu thời tiết ở đây có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở phía bắc không có được: ít thiên tai, không rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và vật nuôi sinh trường.
Lượng mưa trung bình tháng tại vùng biển nghiên cứu dao động khá lớn, lượng mưa thấp hoặc không mưa thường xảy ra từ tháng 2 đến tháng 4. Tháng 8 là tháng có nhiều mưa nhất, lượng mưa phân phối tương đối đồng đều trong các tháng mùa mưa. Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1347 mm.
Nhiệt độ không khí của vùng nghiên cứu khá điều hòa, nhiệt độ trung bình trong năm là 26.7 0C. Thời điểm nóng nhất trong năm là tháng 7 (35.5 - 37.2 0) và nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 (17 - 17.5 0C). Năm 2004 là năm có số giờ nắng cao, nắng hạn kéo dài, số giờ nắng trong năm khoảng 2490 giờ. Số giờ nắng trong năm: Mùa khô: 7 - 8 giờ/ ngày; Mùa mưa: 4 - 6 giờ/ ngày.
Độ ẩm: do nằm trong khu vực gió mùa kiểu xích đạo và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu biển nên độ ẩm thay đổi trong khoảng 79 - 89%, trung bình trong năm là 84%. Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 8 và thấp nhất là tháng 4. Lượng nước bốc hơi bình quân hàng tháng là 130 - 140mm, mùa mưa lượng nước bốc hơi hàng tháng trung bình từ 60 - 70mm.
Khu vực huyện Cần Giờ và Bà Rịa - Vũng Tàu ngoài các khí tượng, thủy văn lục địa còn có các đặc trưng về chế độ thủy văn beỉen cũng rất quan trọng trong quá trình ảnh hưởng môi trường khu vực. Chế độ thủy triều ở đây có biến động khá lớn, trung bình dao động trong khoảng từ 3 - 4m. Các đặc trưng sóng biển tại Cần Giờ cũng như Bà Rịa - Vũng Tàu phụ thuộc chủ yéu vào chế độ gió của hai mùa chính (mùa mưa và mùa khô). Trong vùng ven bờ, mùa khô hướng sóng thịnh hành là hướng đông bắc với tần suất chiếm khoảng 38%, mùa mưa thịnh hành là hướng tây nam (33%), tần suất lặng sóng rất nhỏ chưa tới 0.5%, độc ao sóng trung bình khoảng 0.55m
Cũng như khu vực ven bờ, vùng biển ngoài khơi khu vực nghiên cứu trong mùa khô và mùa mưa, hướng sóng thịnh hành tương ứng là hướng đông bắc và tây nam nhưng tần suất xuất hiện lớn hơn. về mùa khô hướng sóng đông bắc chiếm gần 100%. Độ cao sóng cực đại thường xảy ra vào thời kỳ mùa khô khi có sự hoạt động mạnh của gió mùa đông bắc.
Hệ thống dòng chảy khu vực huyện Cần Giờ và Bà Rịa - Vũng Tàu là kết quả tác động của hệ thống gió mùa, chế độ dòng triều và dòng chảy sông về mùa mưa.
Về mùa khô, dòng chảy thịnh hành ở vùng nghiên cứu có hướng tây nam với vận tốc trung bình khá lớn khoảng 50 - 60 cm/s chiếm khoảng 60%. Ngoài ra còn thấy các dòng chảy vuông góc với đường bờ nhưng chiếm tần suất khá nhỏ, không đáng kể. Trong mùa mưa, vùng nghiên cứu có bức tranh dòng chảy đối lập với bức tranh dòng chảy về mùa khô. Hướng dòng chảy thịnh hành về mùa mưa là hướng đông bắc, sau đó là hướng đông.
Nhiệt độ nước bề mặt vùng biển nghiên cứu thuộc loại cao, thường trên dưới 30 0C. Vào mùa hè nhiệt độ nước biển tương đối đồng nhất từ tầng mặt đến tầng đáy.
Các khối nước ở đây được hình thành dưới tác động của nước thềm lục địa phần ngoài khơi biển Đông và nguồn nước từ sông Đồng Nai và Mê Kông đổ ra. Nước biển ở đây tương đối ấm và độ mặn không cao. Nhiệt độ nước biển dao động trong khoảng 28 - 32 0C, độ mặn từ 32 - 33 ° /oo (trong mùa đông) và tương ứng là 27 - 31 0C, độ mặn từ dưới 32 ° /oo thậm chí dưới 30 ° /oo tại các vùng ven bờ (trong mùa hè).
Các đặc trưng về chế độ khí tượng thuỷ văn trên đây một phần nào đó đã làm cho môi trường biển bị ảnh hưởng. Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết bất thường, sự khai thác nguồn tài nguyên quá mức cùng với sự chưa ý thức của con người trong việc bảo vệ môi trường đã làm cho môi trường biển khu vực Cần Giờ và Bà Rịa - Vũng Tàu bị ô nhiễm khá nghiêm trọng.
Hiện trạng môi trường vùng biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Môi trường ven biển và vùng nước ven biển trực tiếp chịu ảnh hưởng tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở những khu vực có hoạt động công nghiệp, cảng biển, phát triển đô thị tập trung; các vùng cửa sông - nơi các chất thải công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt ở vùng thượng lưu theo các dòng sông đổ ra biển là những nguồn gây ô nhiễm, làm xuống cấp chất lượng môi trường, ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển du lịch biển bền vững. Trong tình trạng chung về suy giảm rừng ở khu vực ven biển và hải đảo ven bờ Việt Nam , tài nguyên sinh vật trong những năm gần đây cũng giảm sút đáng kể kéo theo sự suy giảm về tính đa dạng sinh học. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là do đời sống của người dân vùng ven biển còn thấp, vì vậy dẫn đến việc khai thác cạn kiệt tài nguyên sinh vật, ảnh hưởng đến môi trường khu vực.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vị trí rất đặc biệt, là cửa ngõ của các tỉnh miền Đông Nam bộ hướng ra biển Đông. Hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển nhanh và toàn diện các ngành kinh tế như: công nghiệp khai thác dầu khí ngoài khơi, cảng biển và vận tải biển, khai thác chế biến hải sản, du lịch.
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của tỉnh khá cao, trong giai đoạn 1996 - 2000 kể cả dầu khí tăng khoảng 19,35%, không kể dầu khí tăng khoảng 41,4%, trong khi cả nước tăng 12 - 13%. Dự kiến giai đoạn 2001 - 2005 tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp có dầu khí tăng khoảng 10%, không có dầu khí tăng 15 - 17%.
Là một trong 30 tỉnh nằm ven biển của cả nước, Bà Rịa - Vũng Tàu được đánh giá là có tiềm năng lớn phát triển công nghiệp và du lịch. Thế nhưng các hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên như thăm dò khai thác dầu khí, phát triển cảng và giao thông thuỷ; xây dựng các khu công nghiệp hiện đại như khí - điện - đạm - luyện kim, đóng tàu, phát triển du lịch; đánh bắt nuôi trồng thuỷ sản, đô thị hoá đã đưa tới những hậu quả bất lợi, làm thay đổi các giá trị của dải ven bờ và phát triển tổng thể về lâu dài của vùng đất này.
Diện tích rừng ngay trong khu vực càng ngày càng bị thu hẹp do bị chặt phá. Chất lượng rừng nói chung suy giảm và khả năng phục hồi rừng ngập mặn rói riêng rất hạn chế. Khu vực ngập mặn tiếp giáp với sông Thị Vải, vịnh Gành Rái bị mất ngày càng nhiều do việc xây dựng các khu công nghiệp dọc đường 51. Vùng Lộc An bị mất trên 100 ha đất rừng do chuyển đổi sử dụng cho hoạt động du lịch, nuôi tôm, chế biến thuỷ hải sản. Hoạt động đánh bắt thuỷ sản tuy vượt quá 200.000 tấn/năm nhưng phương thức đánh bắt gần bờ mang tính huỷ diệt. Các ngư dân dùng lưới quét, te, điện, thuốc nổ để tàn sát thuỷ sản. Trong xu thế đó, nhiều hệ sinh thái có giá trị du lịch như hệ sinh thái san hô, cỏ biển; hệ sinh thái rừng ngập mặn; hệ sinh thái đầm phá; hệ sinh thái biển - đảo bị ảnh hưởng và suy giảm.
Trong những năm gần đây các khu công nghiệp tại Bà Rịa - Vũng Tàu đang phát triển mạnh, kèm theo đó là hoạt động xả thải thiếu quy hoạch gây tác động xấu tới môi trường. Chất thải công nghiệp từ các nhà máy, cơ sở sản xuất trong tỉnh và của vùng lân cận là Đồng Nai. Chất thải do chế biến thuỷ hải sản gây ô nhiễm nặng hạ lưu sông Dinh, khu vực Bến Đình, vùng Phước Tỉnh, Cửa Lấp, Long Hải và Bình Châu. Chất thải sinh hoạt từ các hoạt động du lịch đổ ra biển, gây ô nhiễm và mất mỹ quan môi trường du lịch.
Toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có khoảng 4.232 tàu đánh bắt hải sản, chưa kể hàng nghìn chiếc tàu đánh cá của các địa phương khác đến hành nghề, tạo nên một nguồn gây ô nhiễm đáng kể. Bà Rịa - Vũng Tàu có 16 cảng biển, một cảng sông và 7 cảng cá. Mỗi năm bình quân có 10.000 lượt tàu thuyền các loại ra và vào các cảng và phao số "0". Trong những năm gần đây, nhiều cảng đã chú ý đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Tuy nhiên, một số tàu thuyền ra vào cảng không chấp hành quy định về môi trường, xả nước thải, dầu cặn ra sông biển gây ô nhiễm môi trường cục bộ.
Việc di dân, việc đô thị hoá cũng góp phần không nhỏ vào việc huỷ diệt tài nguyên môi trường. Vài năm trước, nói đến Cửa Lấp, nhiều người nghĩ ngay đến những cánh rừng dương ngút ngàn và bờ cát trải dài phẳng lặng. Một khu có thể khait hác tiềm năng du lịch trong tương lai. Vậy mà, bây giờ nói đến Cửa Lấp người ta còn liên tưởng đến "cửa tử", nơi mà thời gian vừa qua đã chôn vùi không ít tàu thuyền do luồng lạch bị bồi lấp. Bên cạnh đó, Cửa Lấp còn phải "gánh" trên vai những nguy cơ từ chính con người mang lại như cư trú trái phép, ô nhiễm môi trường và phát hoại sinh cảnh. Tại một đề tài nghiên cứu khoa học về các nguy cơ đối với dải ven bờ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy chín nguy cơ thì Cửa Lấp chiếm hết chín, trong đó tám nguy cơ nằm ở mức độ ảnh hưởng cao đều thuộc về điểm nóng này.
Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao so với các địa phương khác trong cả nước. Tuy nhiên, đánh đổi cho sự phát triển kinh tế đó là tình trạng môi trường đang bị tàn phá nặng nề. Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường Bà Rịa - Vũng Tàu, hiện trạng môi trường nước, môi trường không khí đã bị ô nhiễm, nhất là môi trường nước trên biển vùng ven bờ.
Các cơ sở sản xuất công nghiệp thải ra môi trường một lượng nước thải lớn, thế nhưng nhiều doanh nghiệp không nộp phí nước thải. Trong 18 tỷ đồng thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải từ (2004 - 2006), chỉ có gần 1,4 tỉ đồng thu từ nước thải công nghiệp. Tình trạng khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép cũng gây thiệt hại lớn cho môi trường. Các cơ sở sản xuất công nghiệp sử dụng thiết bị, công nghệ lạc hậu, hoá chất cũng đã và đang gây suy thoái môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người. Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá ồ ạt kéo theo những vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí, thiếu nước sinh hoạt, phát tán các chất thải nguy hại chưa qua xử lý về môi trường, làm vấn đề ô nhiễm ngày càng trở nên trầm trọng.
(còn nữa)








