Đằng sau cuộc cách mạng chăn nuôi (tiếp theo)
Công nghiệp hóa chăn nuôi
Công nghiệp hóa chăn nuôi có thể là hệ quả tất yếu của chuỗi thực phẩm liên kết theo chiều dọc và cung ứng cho các cửa hàng bán lẻ lớn, nhưng cũng có thể xảy ra một cách độc lập.
Mở rộng quy mô sản xuất
Ở Thái Lan cũng vậy, chỉ tăng số lượng loại trại lợn quy mô lớn (Pôapngsakorn - 2003). Vùng Luzon ở phía nam Pilippine là vùng trọng điểm chăn nuôi lợn, từ năm 1980 đến năm 2000, số lượng lợn nuôi của các hộ chăn nuôi cá thể có tăng, nhưng không tăng một cách phi thường bằng các trại chăn nuôi thương phẩm (Costales - 2003).
Ở những quốc gia mà các ngành sản xuất khác chưa cần nhiều lao động thì các nông hộ còn tiếp tục tận dụng lao động giá rẻ của họ để tiếp tục hành nghề chăn nuôi. Nhưng khi yêu cầu lao động của các ngành khác tăng, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ sẽ bỏ nghề.
Nhiều hàng hóa khác nhau và nhiều công đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất gợi mở ra tiềm năng khác nhau của quy mô sản xuất. Lĩnh vực có tiềm năng lớn là công đoạn sau thu hoạch (lò sát sinh, xưởng chế biến sữa). Về lĩnh vực sản xuất sản phẩm, chăn nuôi gia cầm dễ cơ giới hóa, cho nên ngay ở các nước chậm phát triển cũng theo chiều hướng chăn nuôi gia cầm công nghiệp.
Quy mô chăn nuôi lợn ở châu À phụ thuộc vào loại lợn và sản phẩm cuối cùng. Trong chăn nuôi lợn thịt, đầu tư con giống, thức ăn. thú y tác động lớn đối với khả năng tăng trọng (hệ số sử dụng thức ăn cao, lợn bán được giá do có chất lượng), chăn nuôi quy mô lớn có lợi. Đối với chăn nuôi lợn con nuôi thịt để bán cho các trại chuyên vỗ béo thì quy mô không phải là yếu tố chính để thu lợi nhuận cao trên một đơn vị sản phẩm đầu ra, vì chăm sóc lợn đến lúc cai sữa xuất chuồng yêu cầu đầu tư lao động chứ không phải khai thác tiến bộ công nghệ của quy mô sản xuất (Pôapngsakorn - 2003). Chăn nuôi bò sữa cũng đòi hỏi nhiều lao động, so với các xí nghiệp lớn, giá thành ở các hộ chăn nuôi thấp hơn, vì tiền công lao động thấp hơn. Cuối cùng, về chăn nuôi bò sữa, quy mô nhỏ vẫn là phương thức chủ đạo. Tuy nhiên, khi sản xuất quy mô hộ vượt quá mức trung bình sẽ gặp một số trở ngại như khả năng cạnh tranh yếu và nhiều rủi ro khác.
Những nghiên cứu mới đây (Đelgeo và Nerod - 2002) khẳng định, việc trợ cấp sản xuất che dấu hoặc công khai có tác động làm hạ giá sản phẩm chăn nuôi cung cấp cho thành phố nhưng lại không lợi cho người sản xuất quy mô nhỏ ở nông thôn. Thông thường thiếu sự hỗ trợ của chính phủ để phổ biến hoặc giúp người sản xuất quy mô nhỏ sử dụng công nghệ mới. Tuy công lao động giá thấp nhưng giá thành sản phẩm của người sản xuất quy mô nhỏ vẫn cao vì 2 yếu tố: Thị trường và rủi ro trong sản xuất. So với người sản xuất quy mô tớn, người sản xuất quy mô nhỏ không đủ lực và chiến lược để đối phó với những rủi ro thị trường như biến động giá vật tư và sản phẩm, hoặc những rủi ro về sản xuất như sản phẩm xuống cấp và kiểm ra chất lượng, những tác động về thiên tai như hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh.
Vùng chuyên canh
Khi các nước tiến hành công nghiệp hóa họ đi theo mô hình tổ chức vùng chuyên canh. Chăn nuôi truyền thống dựa vào nguồn thức ăn sẵn có của địa phương như đồng cỏ tự nhiên và phụ phẩm cây trồng. Những nguồn thức ăn sẵn có trên, giải thích sự phân bố của ngành chăn nuôi gia súc nhai lại. Trong lúc đó phân bổ chăn nuôi lợn và gia cầm lại sát với dân cư vì chúng chuyển hóa các vật phế thải thành thịt và trứng. Ví dụ, ở Việt Nam , nước mới bắt đầu công nghiệp hóa. 90% mô hình chăn nuôi gia cầm đều gắn với phân bố dân cư (Gerber và những người khác - 2005):
Cùng với đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế, thu nhập người dân cao hơn nên đòi hỏi nhiều sản phẩm chăn nuôi hơn; do đó thời kỳ đầu, xuất hiện các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn phân bổ sát với chốn thị thành. Sản phẩm chăn nuôi dễ hư hỏng, việc bảo quản sẽ thành vấn đề, nếu không chế biến và làm lạnh; Vì vậy, chăn nuôi phải ở gần nơi tiêu thụ.
Đến thời kỳ tiếp theo, khi cơ sở hạ tầng và kỹ thuật đã phát triển đến mức có thể đưa chăn nuôi ra xa vùng dân cư, chăn nuôi sẽ rời khỏi các trung tâm tiêu thụ vì một loạt các yếu tố như ở vùng xa giá đất và nhân công rẻ, gần nguồn thức ăn, tiêu chuẩn môi trường không quá khắt khe, có mức thuế khuyến khích, ít dịch bệnh. Từ năm 1992 đến năm 2000 giảm mật độ chăn nuôi gà ở vùng cách Bangkok dưới 100 cây số, giảm mạnh nhất (40%) là những vùng cách thành phố dưới 50 cây số. Chăn nuôi chuyển ra các vùng cách thành phố trên 100 cây số; Chăn nuôi gia cầm ở những vùng này được hưởng thuế ưu đãi. Ở các nước có nền kinh tế đã cũng như đang phát triển, chăn nuôi lợn và gia cầm đều tổ chức thành vùng chuyên canh. Số lượng lợn của Pháp, Braxin, Thái Lan đang tiếp tục tập trung về nuôi ở các trại quy mô lớn (Gerber - 2004).
Tuy không khí và đa dạng sinh học cũng bị ảnh hưởng, nhưng tác động chính của chăn nuôi tập trung ở nhưng vùng ít hoặc không có đất canh tác là ô nhiễm môi trường do phân và nước thải. Do sử dụng sai chất thải chăn nuôi hoặc chất thải công nghiệp đã làm cho chất dinh dưỡng bị tích đọng rồi, vì sơ suất về quản lý mà có thể xảy ra hiện tượng cây trồng bị quá dưỡng, ao cá bị nhiễm độc. Chất dinh dưỡng tích đọng trong hệ thống trồng trọt chăn nuôi chủ yếu tử chất thải gia súc không được thu dọn hoặc tái sử dụng đúng quy cách. Chất photphat (P 20 3) tích đọng là một trong những mối liên quan làm thoái hóa đất trồng cây lương thực ở Nam và Đông Nam Á (Gerber và Nct - 2005).
Tập trung chăn nuôi và chế biến ở vùng ngoại đô làm nông thôn nghèo mất khả năng tận dụng cơ hội của thị trướng mới. Protein động vật giá rẻ có lợi đối với người tiêu dùng nghèo, còn chăn nuôi công nghiệp không mang lại hiệu quả giảm đói nghèo và công bằng xã hội (De Han - 2001). Do chăn nuôi tập trung và thâm canh mà một số bệnh gia súc có thề nguy hiểm đối với cộng đồng (Virus Nipah, cúm gia cầm).
Thâm canh chăn nuôi
Trong thâm canh chăn nuôi, cái mà người ta phải để ý nhiều nhất là đầu vào. Trong những thập niên vừa qua hiệu suất sử dụng thức ăn đã được cải thiện đáng kể. Khi mà nhiều nơi của thế giới đang phát triển hướng về chuỗi thực phẩm cung cấp những khẩu phần giàu dinh dưỡng và đa dạng, chăn nuôi dựa vào nguồn thức ăn nhiều xơ và tinh bột giảm, còn chăn nuôi dựa vào thức ăn giàu protein cùng với các chất bổ sung hiếm quý đang tăng.
Chăn nuôi truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn địa phương sẵn có như rơm rạ, phụ phẩm ngũ cốc và một phần nguyên liệu gia đình không sử dụng. Thường đồng cỏ tự nhiên là nơi chăn thả gia súc. Thế nhung, hiện giờ phần lớn đất đồng cỏ là những khoảng đất không thích hợp hoặc khó canh tác cây lương thực. Thường đất thoái hoá chuyển thành đồng cỏ chăn nuôi. Theo tinh toán năng suất đất trồng cỏ kém xa đất canh tác, mặc dù vậy, khó mà tính toán được một cách chi li. Có một số yếutố chi phối chiều hướng trên. Thứ nhất, thâm canh trên đất đồng cỏ khó về kỹ thuật và không có lãi. Những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của đồng cỏ nhìn chung liên quan đến khí hậu - thời tiết, địa hình, độ màu mỡ kém, dễ đau ốm. Đất đồng cỏ và đất sử dụng hỗn hợp trồng trọt - chăn nuôi ở vùng khô hạn và quá khô hạn ở Cận Sahara - Phi Châu minh chứng cho những hạn chế nói trên của đất đồng cỏ. Những hạn chế trên có thể khắc phục bằng cách đầu tư hàng loạt, bao quát mọi phương diện, nếu chỉ can thiệp bằng cách lấn dần từng phần sẽ không có hiệu quả. Thêm vào đó ở nhiều nước Châu Phi và Châu á. đồng cỏ chăn thả lại là tài sản chung nên làm cho vấn đề thâm canh đồng cỏ trở nên phức tạp hơn. Nếu không có những cải cách thể chế kiên quyết, đầu tư tư nhân vào những diện tích đó gặp khó khăn vì vấn đề phân chia lợi nhuận giữa cộng đồng với cá nhân chủ đầu tư. Thiếu cơ sở hạ tầng ở những diện tích xa xôi cũng làm cho đầu tư tư nhân khó thu được hiệu quả đầu tư cải tạo.
Khi chăn nuôi phát triển và đi vào thâm canh, chăn nuôi sẽ ít phụ thuộc vào nguồn thức ăn sẵn có của địa phương, thay vào đó là thức ăn tinh bán trên thị trường trong nước hay nhập khẩu. Năm 2004 chăn nuôi dùng 690 triệu tấn lương thực (34% tổng sản lượng toàn cầu) và khoảng 18 triệu tấn hạt có dầu làm thức ăn. Ngoài ra còn sử dụng thêm 295 triệu tấn phụ phẩm chế biến giàu protein (cám, khô dầu, bột cá) Những nguồn thức ăn tinh nói trên, phần lớn dùng để nuôi gà. lợn. Thức ăn tinh nuôi gà, lợn hiệu quả hơn nuôi bò, dê, cừu. Trong số các loài súc vật dạ dày đơn, gà cho tăng trọng cao nhất, giá một đơn vị thành phẩm rẻ nhất, vì gà có hệ số chuyển hóa thức ăn tinh tốt. Những nơi lương thực giá đắt thường hạn chế dùng lương thực để nuôi gia súc nhai lại. Những nước đang phát triển thiếu lương thực, lương thực giá đắt nếu dùng hạt ngũ cốc nuôi gia súc nhai lại không có lợi.
Tình hình sẽ ra sao nếu dùng nhiều hạt ngũ cốc làm thức ăn gia súc?
Bắt đầu từ những năm 1950 giá ngũ cốc giảm và ổn định. Tuy thời kỳ đó nhu cầu tăng nhưng nguồn cung ứng đầy đủ. Trong vòng 24 năm (từ 1980 đến 2004) nguồn cung ứng lương thực tăng 46%. Thực tế (theo giá đôla cố định), từ năm 1961 giá lương thực trên thế giới giảm một nửa. Lượng hàng cung ứng tăng nhưng giá hạ, chủ yếu nhờ thâm canh diện tích sản xuất lương thực đã có chứ không phải do mở rộng diện tích. Thâm canh sản xuất lương thực là kết quả của tiến bộ kỹ thuật và gia tăng đầu tư đầu vào (suốt thời kỳ đó diện tích sản xuất của thế giới giảm 5,2%). Khác với các nước phát triển, ở các nước đang phát triển mở rộng diện tích sản xuất lương thực là đóng góp quan trọng cho việc tăng nguồn cung, giai đoạn 1980 - 2004; Vùng cận Sahara - Phi Châu diện tích tăng nhiều nhất (64%), châu Á và Đông Nam Ả tăng 15.2%; ở châu Mỹ Latinh mức tăng diện tích trồng cây lương thực không nhiều (3,9%), nhưng diện tích trồng cây có dầu tăng 97%. Đặc biệt có một số nước tăng mạnh diện tích trồng cây lương thực nhưng chủ yếu dựa vào khai hoang rừng (Braxin và một số nước Mỹ Latinh). Phần lớn các diện tích này dùng để sản xuất nguyên liệu làm thức ăn gia súc, nhất là đậu tương và ngô (FAO - 2005).
Thâm canh chăn nuôi dựa vào các tiến bộ kỹ thuật về di truyền, thú y,quản lý đã góp phần làm cho việc sử dụng các nguồn lợi tự nhiên hiệu quả hơn, làm tăng năng suất đàn gia súc. Từ năm 1980 đến năm 2004 năng suất thịt lợn, thịt gà và sữa tăng tương ứng 61%, 32% và 21% (FAO - 2005). Những tiềm năng mới này đã chuyển thể thành công nghệ, bản thân nó có lợi và có thể thích nghi với các điều kiện địa phương. Bằng cách tăng cường sử dụng các dịch vụ do nước ngoài cung cấp, các tiến bộ kỹ thuật trên đã được phổ cập, bằng cách chuyên môn hóa sản xuất, hệ thống chăn nuôi thả vườn và chăn nuôi hỗ trợ sẽ chuyển thành chăn nuôi thương mại, chuyên môn hóa sản xuất.








