Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 25/02/2005 22:13 (GMT+7)

Đặc điểm và hình thái hoạt động của các NGO trên thế giới

ĐỊNH NGHĨA CỦA MỘT NGO

Theo Ngân hàng Thế giới thì " Sự đa dạng của các NGO lớn dến nỗi không một định nghĩa đơn giản nào có thể bao hàm một cách đầy đủ. Các tổ chức này bao gồm nhiều nhóm và các đơn vị hoàn toàn hoặc hầunhư hoàn toàn không phụ thuộc vào chính phủ; là các tổ chức có mục tiêu hoạt động trước hết vì mục đích nhân đạo và hợp tác hơn là vì lợi ích thương mại. Đó còn là các tổ chức tư nhân ở các nước côngnghiệp phát triển hoạt động vì sự phát triển quốc tế; là các nhóm bản địa tổ chức theo vùng hoặc quốc gia; là các nhóm người dân thành viên của cộng đồng làng xã . NGO cũng bao gồm các hội từ thiệnvà tôn giáo hoạt động nhằm quyên góp tiền từ tư nhân đóng góp cho phát triển, phân phát thức ăn, dụng cụ kế hoạch hoá gia đình và phát triển tổ chức cộng đồng. Các tổ chức NGO cũng bao gồm các hợptác xã độc lập, các hội sử dụng nước, các nhóm phụ nữ và hội của các linh mục. Ngoài ra các nhóm công dân hoạt động nhằm tăng cường nhận thức và ảnh hưởng về mặt chính sách cũng được coi làNGO.

Còn có rất nhiều định nghĩa khác về NGO của các học giả khác nhau như: NGO là tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động vì lợi ích của các nhóm công dân khác; NGO là các tổ chức phi chính phủ, là các tổ chứctự nguyện của người dân, là các tổ chức thuộc xã hội dân sự, là tổ chức hỗ trợ cho việc tạo quyền lực cho người nghèo... tùy theo mục đích của mỗi nhóm mà người nghiên cứu đưa ra những khái niệm cụthể khác nhau.

PHÂN LOẠI NGO

1. Theo định hướng hoạt động

- Đinh hướng từ thiện: các NGO có hoạt động trực tiếp thoả mãn nhu cầu của người nghèo - phân phát lương thực , thuốc men , cấp nhà , phương tiện vận chuyển , xây dựng trường học ..
- Định hướng dịch vụ: các NGO có hoạt động cung cấp dich vụ y tế, kế hoạch hoá gia đình , giáo dục...

- Định hướng có sự tham gia của các bên: là các dự án tự lập ,trong đó những người dân địa phương tham gia tích cực vào dự án thông qua việc đóng góp tiền, công cụ, đất, vật liệu, sức laođộng...

- Đinh hướng tạo quyền: mục đích giúp người dân nghèo hiểu biết rõ hơn về các yếu tố xã hội, chính trị và kinh tế có tác động đến đời sống của họ và giúp họ nhận thức về năng lực của bản thân để kiểmsoát cuộc sống của họ.

2. Theo định hướng phạm vi hoạt động

- Các tổ chức dựa trên cơ sở cộng đồng (CBO): Các câu lạc bộ thể thao, các tổ chức của phụ nữ, các tổ chức của một khu dân cư, các tổ chức tôn giáo hoặc giáo dục.

- NGO trong phạm vi một đô thị: Các tổ chức như câu lạc bộ, phòng thương mại và công nghiệp, các liên đoàn doanh thương, các nhóm dân tộc hay giáo dục và hiệp hội của các tổ chức cộng đồng.

- NGO quốc gia: Hội chữ thập đỏ, các tổ chức nghề nghiệp...

- NGO quốc tế: Các tổ chức cứu trợ trẻ em, OXFAM, CARE, các Quỹ Rokerfeller và Ford, các nhóm tôn giáo...

(Cousin William, Dân nghèo đô thị và các dịch vụ hạ tầng cơ bản ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.)

3. Các lĩnh vực hoạt động của NGO

NGO chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực sau:

- Xây dựng tổ chức cộng đồng

- Tăng cường dân chủ hoá

- Giáo dục

- Xây dựng doanh nghiệp

- Bảo vệ môi trường

- Y tế

- Nhà ở

- Nhân quyền

- Hạ tầng cơ sở

- Xoá đói giảm nghèo

CÁC THẾ HỆ CỦA NGO VÀ ĐẶC ĐIỂM CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

Theo một số nhà nghiên cứu, các NGO trên thế giới đã trải qua ba thế hệ. Những thế hệ này có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau về mục đích, đặc điểm, chiến lược và hình thứchoạt động. Dưới đây là bản tổng kết các đặc diểm của ba thế hệ NGO trên thế giới.

Qua bảng dưới, chúng ta thấy các NGO trên thế giới thay đổi khá nhiều từ thế hệ thứ nhất đến thế hệ thứ ba, từ chỗ mục đích chỉ đơn thuần là cứu trợ và phúc lợi chuyển sang phát triển ở quy mô nhỏ;giúp địa phương tự phát triển đến phát triển thành hệ thống mang tính bền vững. Mặt khác các NGO cũng thay đổi từ chỗ chỉ là công việc của một số các nhân hay gia đình, hoạt động cứu trợ tức thời đếnviệc kết hợp NGO và các tổ chức thụ hưởng rồi đến việc kết hợp các NGO với các tổ chức công và tư, nằm trong hệ thống thích hợp. Nếu trước đây các NGO thường hoạt động độc lập với chính phủ thì ngàynay các NGO đã biết kết hợp các hoạt động của mình với các chương trình lớn của các chính phủ...

VAI TRÒ CỦA CÁC TỔ CHỨC NGO

Xét một cách tổng quát, NGO có 6 vai trò quan trọng sau:

1. Phát triển và vận hành cơ sở hạ tầng:

Các tổ chức cộng đồng hoặc các hợp tác xã có thể nhận, chia nhỏ và mở rộng đất đai; xây dựng nhà cửa; cung ứng, vận hành và duy trì các cơ sở hạ tầng như giếng nước sạch, nhà vệ sinh công cộng, haycác dịch vụ thu gom rác thải rắn. Họ còn có thể phát triển các trung tâm cung ứng vật liệu xây dựng và các doanh nghiệp cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, các tổ chức này cần có sự trợ giúp kỹ thuậthay tư vấn của các cơ quan chính phủ hay các tổ chức phi chính phủ cấp cao hơn.

2. Hỗ trợ các dự án sáng tạo, trình diễn hay thí điểm:

NGO có lợi thế trong việc chọn địa điểm cụ thể để triển khai các dự án mới và xác định trước thời gian hỗ trợ cho dự án, do vậy khắc phục được một số tồn tại mà các cơ quan chính phủ thường gặp phảitrong lĩnh vực này. Các NGO cũng có thể làm thí điểm cho các dự án lớn hơn của chính phủ do họ có khả năng triển khai nhanh hơn so với các cơ quan quan liêu của chính phủ.

3. Tạo điều kiện cho công tác truyền thông:

NGO sử dụng các biện pháp tuyên truyền giữa các cá nhân và nghiên cứu những điểm thâm nhập chính xác qua đó họ có được sự tin tưởng của cộng đồng mà họ muốn đem lại lợi ích. Hơn nữa các tổ chức nàycòn hiểu rõ tính khả thi của các dự án họ đảm nhận. Họ có thể cung cấp những thông tin về đời sống, năng lực, quan điểm và các đặc trưng văn hóa của người dân ở địa phương cho các cấp hoạch địnhchính sách của chính phủ.

NGO có thể tạo điều kiện trao đổi thông tin từ nhân dân lên chính phủ, và từ chính phủ xuống nhân dân. Các thông tin đưa lên cho biết về suy nghĩ, hoạt động và tâm tư tình cảm của nhân dân địaphương, còn thông tin đưa xuống cho biết về kế hoạch và hoạt động của chính phủ. NGO cũng có vị thế độc đáo, có thể chia sẻ thông tin theo chiều ngang và lập mạng lưới liên kết với các tổ chức kháccó nhiệm vụ tương tự.

4. Hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo:

Các viện đào tạo và các NGO có thể hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo năng lực, sử dụng để trợ giúp các tổ chức cộng đồng và chính phủ.

5. Nghiên cứu, theo dõi và đánh giá:

Các hoạt động sáng tạo của NGO được ghi lại cẩn thận và đem ra chia sẻ. Các kết quả từ hoạt động của NGO được tập thể giám sát, đánh giá và sẽ được thông tin rộng rãi trên toàn xã hội.

6. Bênh vực và giúp người nghèo tự bảo vệ:

Trong một số trường hợp, các NGO trở thành phát ngôn viên hay thanh tra viên cho người nghèo, và thay mặt họ tác động tới các chính sách và chương trình của chính phủ. Điều này có thể đạt được thôngqua một loạt các biện pháp, từ các dự án trình diễn hay thí điểm tới việc tham gia các diễn đàn công luận và tham gia xây dựng chính sách, kế hoạch của chính phủ, phổ biến các kết quả nghiên cứu vàcác trường hợp nghiên cứu diển hình của người nghèo.

Vì thế các NGO đóng nhiều vai trò: từ việc làm người bênh vực cho người nghèo, tới việc thực hiện các chương trình của chính phủ; từ việc làm người cổ vũ và phê phán tới làm đối tác và tư vấn, từ nhàbảo trợ cho một dự án thủ nghiệm tới người hoà giải.

NHỮNG LỢI THẾ VÀ HẠN CHẾ CỦA CÁC NGO

1. Lợi thế:

- NGO có khả năng thử nghiệm một cách thoải mái với những phương pháp tiếp cận sáng tạo, khi cần thiết có thể chịu rủi ro.

- NGO rất mềm dẻo và dễ thích nghi với các tổ chức bản địa và đáp ứng những nhu cầu của địa phương, do đó có thể phát triển những dự án đan xen cũng như dự án riêng của một ngành

- NGO có quan hệ hài hoà với người dân và có thể giúp đỡ ở tầm vi mô cho những người rất nghèo; họ có thể xác định ai là người khó khăn nhất và tìm cách đáp ứng nhu cầu của họ theo cách phù hợpriêng.

- NGO có khả năng liên hệ với tất cả các cấp, từ phường xã tới cấp cao nhất của nhà nước.

- NGO có khả năng tuyển dụng cả những chuyên gia và những cán bộ có nhiệt huyết, với những điều kiện dễ hơn so với các cơ quan chính phủ.

2. Hạn chế:

- Cách nhìn nhận của NGO mang tính mô hình nên hạn chế việc tham gia của họ vào việc thiết kế các chương trình, dự án lớn.

- Các phương pháp tiếp cận của NGO có giới hạn, chỉ hạn chế ở một vấn đề hay một vùng.

- Dễ có sự lặp lại của một ý tưởng do tính không đại diện của dự án, của một khu vực, chỉ bao quát một diện tương đối nhỏ của dự án hoặc chỉ phụ thuộc vào nguồn tài trợ từ bên ngoài...

- " Tính sở hữu" của NGO mang tính chất lãnh thổ, của một vùng hay một dự án, làm giảm khả năng hợp tác giữa các tổ chức bị coi là có thể đe doạ hoặc là đối thủ cạnh tranh.

(Cousin William, Dân nghèo đô thị và dịch vụ hạ tầng cơ bản ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương)

KẾT HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGO VÀ CÁC TỔ CHỨC THUỘC CHÍNH PHỦ

Việc kết hợp hoạt động của các NGO và các tổ chức thuộc chính phủ về cơ bản liên quan tới việc nâng quy mô của các sáng kiến về phương pháp tiếp cận. Tuy nhiên, trong việc này còn có nhiều trở ngạinhư:

- Đầu tư về mặt tài chính và nguồn nhân lực theo kết quả của một dự án thí điểm do NGO thực hiện thường rất lớn và khó có thể lặp lại trên một quy mô rộng lớn với nguồn tài chính sẵn có.

- Bất cứ một gói đầu tư chuẩn nào cũng không đủ độ uyển chuyển để có thể thích nghi với số lượng và mức độ đa dạng của các tổ chức NGO và bối cảnh văn hoá của địa phương.

- Thông thường các tổ chức tự nguyện đưa ra các dự án không có hoặc rất ít sự tham gia của chính phủ, họ không thấy hết những ràng buộc thực tế của hệ thống hành chính của chính phủ, vì thế họ có ítuy tín hơn.

- Đôi khi sự tham gia của cộng đồng vào các giai đoạn của dự án không đủ dể đảm bảo sự phù hợp, tính hiệu quả kinh tế , diện bao quát và tính liên tục của dự án.

- Đôi khi có sáng kiến đòi hỏi phải thực hiện một cách nhanh chóng và không thể đưa thành một chương trình lớn với quy mô quốc gia được.

- Các quan chức chính phủ thường hoài nghi và ít tin vào các tổ chức tự nguyện.

CÁC VẤN ĐỀ CỐT YẾU CẦN KHẮC PHỤC LIÊN QUAN TỚI VIỆC NÂNG QUY MÔ CỦA CÁC SÁNG KIẾN LÀ:

- Lôi cuốn sự chú ý của các nhà làm chính sách và làm cho họ tin tưởng tính hữu ích, thực tiễn, khả năng kinh tế và tính có thể sao chép lại của phương pháp tiếp cận.

- Việc nâng quy mô sáng kiến đòi hỏi một loại năng lực quản lí khác, nó mang ít tính cá nhân và phải rất bình dân.

- Cần phải lựa chọn và duy trì đội ngũ cán bộ dự án với các tiêu chuẩn cơ bản như: thái độ, kĩ năng và động cơ làm việc.

- Cần đào tạo một đội ngũ cán bộ địa bàn và cán bộ quản lí dự án đủ lớn để làm việc cho các dự án có sự tham gia của các bên.

- Luôn nhấn mạnh sự tham gia của các bên vào quá trình thực hiện hơn là chỉ nhấn mạnh vào kết quả của dự án.

- Duy trì và nâng cao trách nhiệm của các cấp hoạch định chính sách và quản lí hành chính đối với những người dân ở cơ sở.

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐỂ NÂNG CẤP QUY MÔ CÁC SÁNG KIẾN

- Chính phủ tìm hiểu thấu đáo một dự án của NGO và biến thành một bộ phận khăng khít giúp thực thi các chương trình, dự án lớn hơn của chính phủ.

- Tiến hành một quá trình nhân đơn vị, trong đó dựa trên mô hình dịch vụ của mỗi NGO, chính phủ đồng ý chọn để tham gia vào các dự án của chính phủ theo vai trò chức năng nổi trội nhất của họ.

KẾT LUẬN

Chính phủ VN ngày càng nhận rõ khả năng và vai trò của các tổ chức NGO trong nước và quốc tế. Tuy nhiên các cơ quan nhà nước, đặc biệt các cơ quan quản lí cấp cơ sở, còn ngần ngại trong việc kết hợpvới các NGO. Mong rằng sẽ có nhiều nghiên cứu, tìm hiểu loại hình hoạt động này để tạo điều kiện cho các NGO đóng góp tốt hơn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Xem Thêm

Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.
Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.

Tin mới

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến New York tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Liên hợp quốc đang cùng nhau hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ.
Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững Việt Nam - Hoa Kỳ
Chuyến công tác và hoạt động song phương tại Hoa Kỳ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ góp phần triển khai các nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện phát triển ổn định, thực chất, hiệu quả và bền vững.
Lào Cai: Nâng cao kiến thức, năng lực triển khai truy xuất nguồn gốc cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất
Trong khuôn khổ chương trình do Sở KH&CN tỉnh Lào Cai tổ chức, với sự phối hợp của Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã và các đơn vị liên quan, trong hai ngày 16-17/9 tại phường Yên Bái và phường Lào Cai, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất, kinh doanh đã cùng trao đổi những vấn đề cụ thể xoay quanh sản phẩm OCOP, MSMV, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu và chuyển đổi số.
Hải Phòng: Giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh
Sáng ngày 18/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp cùng Trường Đại học Hải Phòng, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Hưng Yên, Viện Kỹ thuật Xây dựng, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia tổ chức Hội thảo khoa học: “Chuyển đổi số và công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh”.
Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững tỉnh Đắk Lắk
Công nghệ sinh học (CNSH) đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, tài nguyên sinh học và đa dạng hệ sinh thái. Đối với Đắk Lắk, phát huy lợi thế về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nguồn nguyên liệu phong phú gắn với ứng dụng KHCN có ý nghĩa thiết thực. Trong đó, CNSH có thể tạo ra những giá trị mới từ giống, quy trình sản xuất, chế biến đến xử lý phụ phẩm...
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Đại hội đại biểu lần thứ I
Sáng 18/9, tại Khánh Hòa, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Nguyễn Quyết Chiến tham dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.
Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn mới
Nhằm tạo diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và đội ngũ cán bộ y tế cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phân tích những vấn đề đang đặt ra trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc thai kỳ, sinh đẻ an toàn và chăm sóc trẻ sơ sinh trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn mới.
An Giang: ông Trương Minh Thuần làm Chủ tịch Liên hiệp Hội
Trong 02 ngày 17&18/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh An Giang (Liên hiệp Hội tỉnh An Giang) tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên của Liên hiệp Hội tỉnh sau hợp nhất An Giang và Kiên Giang, đánh dấu bước chuyển mới trong tổ chức, tập hợp và phát huy nguồn lực trí thức khoa học, công nghệ trên không gian phát triển mới của tỉnh.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Trí tuệ tích lũy trong lịch sử phải trở thành năng lực dẫn dắt sự phát triển đất nước
Sáng 17/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Ban Chỉ đạo) họp Phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì Phiên họp.
Đắk Lắk: Đánh giá kết quả vòng sơ khảo Cuộc thi lần thứ I
Chiều ngày 15/9, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Hội đồng Giám khảo Vòng chung khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên, nhi đồng lần thứ I năm 2026 tổ chức họp đánh giá kết quả chấm điểm vòng sơ khảo và thống nhất phương án xếp giải. Cuộc họp được tổ chức theo hình thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến, với sự tham dự của các thành viên Hội đồng Giám khảo.