Cười để trẻ lâu
Vì sao ta già?
Giải đáp câu hỏi trên chỉ mới hé lộ vào những năm cuối của thế kỷ 20, đó là “phức hợp các thay đổi bên trong tế bào”, cụ thể hơn là sự “giằng co” giữa sự tổn thương ADN trong nhân tế bào và khả năng tế bào sửa chữa những tổn thương đó. Hai yếu tố chính tham gia vào quá trình trên là gen di truyền và sự hình thành các gốc tự do. Trong khi sự tham gia của gen vào quá trình lão hoá vẫn còn chưa được biết tường tận thì sự can thiệp của các gốc tự do ngày càng được nghiên cứu kỹ hơn. Cụ thể là người ta đã biết gốc tự do được hình thành và phát triển liên tục trong tế bào đang hoạt động, đặc biệt, số tăng vọt đột biến khi cơ thể gặp phải stress.
Dĩ nhiên, cơ thể cũng có cơ chế “tự cứu” nhờ vào các enzym với vai trò “cảnh sát” giữ các gốc tự do nằm trong vòng kiểm soát. Tuy vậy, với nhiều nguyên nhân khác nhau, sự gia tăng của đại gia đình mang tên “gốc tự do” vẫn dễ dàng vượt khỏi tầm kiểm soát, đưa đến hậu quả là sự lão hoá của cơ thể, kèm theo đủ thứ bệnh tật trên đời.
Vài nguyên nhân gây lão hoá
- Ăn uống:quá nhiều các chất béo, ngọt, chất bột, quá ít các loại rau, củ, quả tươi. Ăn quá nhiều thức ăn nhanh, chế biến sẵn, các món nướng, chiên, xào, quá ít các thức ăn luột, kho, nấu, chưng. Uống quá nhiều các chất có cồn, có gas, uống quá ít… nước (đun sôi để nguội).
- Chế độ sinh hoạt:lối sống và làm việc tĩnh lại, ít vận động và/ hoặc lười vận động. Không có sự cân bằng giữa làm việc và nghỉ ngơi.
- Stress.
- Môi trường ô nhiễm:do chất thải, các bức xạ điện từ phát ra ở môi trường làm việc cũng như ở các nhà máy in, máy photocopy, màn hình vi tính, ti vi, máy điều hoà, lò vi –ba, điện thoại di động…
Cười để giảm stress
Stress là một tình trạng cảm xúc không ổn định. Các dạng stress có thể là lo lắng, buồn phiền, hoảng sợ, giận dữ… thái quá và kéo dài. Hậu quả là để lại những di chứng trên hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm.
Y học cổ truyền đã gọi những bệnh tật phát sinh do yếu tố tâm lý là “bệnh do tình chí” và xếp chúng vào nhóm bệnh do nguyên nhân “Nội thương thất tình” (bảy loại tình chí). Đó là hỷ(vui), nộ(giận) , ưu(lo) , tư(nghĩ) , bi(buồn) , khủng(sợ) , kinh(khiếp) .Y học cổ truyền đã tổng kết hậu quả gây ra cho cơ thể nếu “thất tình” thái quá và kéod ài: tư thương tỳ(lo quá hại Tỳ), nộ thương Can(giận hại Can), bi thương Phế(buồn quá hại Phế), khủng thương Thận(sợ quá hại Thận), hỷ thương Tâm(vui quá hại Tâm). Các nghiên cứu của y học hiện đại về ảnh hưởng xấu của stress lên cơ thể đã minh chứng điều này.
Để khắc chế dạng cảm xúc “âm tính” này, người xưa đã dùng một thứ cảm xúc “dương tính” có tính chất đối lập lại hoàn toàn, đó là tiếng cười. Tục ngũ có câu “tiếu nhất tiếu, thập niên thiếu” có nghĩa là “một tiếng cười trẻ mười năm”. Các thầy thuốc cổ đều cho rằng tiếng cười có quan hệ chặt chẽ với trạng thái “ hỷ”, tức là niềm vui, là loại tình chí có tác dụng tích cực nhất. Theo y học cổ truyền, hỷquan hệ chặt chẽ với tạng Tâm, mà tạng Tâm là tạng chủ về thần minh (ý thức), chính là hoạt động của hệ thần kinh trung ương, chi phối mọi hoạt động trong cơ thể.
Trong phép giữ gìn sức khoẻ, người xưa đã đề cao phép điều dưỡng tinh thần, trong đó bao hàm cả việc tạo ra mộtmôi trường sống thoải mái, duy trì được đời sống tinh thần vui vẻ, thậm chí hài hước. Y học cổ truyền gọi đây là “ý liệu pháp”. Y thư cổ có ghi “ hỷ tắc khí hoà chí đạt, dinh vệ thông lợi, khí huyết hoà sướng”.








