Cuộc “cách mạng” lớn nhất trong lĩnh vực quản lý khoa học & công nghệ: Từ ngân sách “nuôi” khoa học đến khoa học “tự nuôi mình”
Đó là chủ trương được thể hiện tại Nghị định 115 của Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học nhà nước (tháng 6-2006).
Đây được coi là cuộc cách mạng lớn nhất từ trước đến nay trong lĩnh vực quản lý khoa học và công nghệ (KH&CN), là cuộc đổi mới thật sự ở lĩnh vực này sau 20 năm đất nước đổi mới.
Nhưng đó cũng là “cơn động đất” đang diễn ra ở các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học nhà nước; các nhà khoa học đang có nhiều tâm trạng khác nhau: hào hứng, dè dặt, lo lắng...
Đề cập đến kế hoạch “tự làm tự sống” đối với các đơn vị nghiên cứu khoa học nhà nước, PGS.TS Hồ Sơn Lâm - viện trưởng Viện Khoa học vật liệu ứng dụng thuộc Viện KH&CN VN - nói “con đường này sớm muộn gì cũng phải đi nhưng cần xem xét kỹ lưỡng những cơ quan nghiên cứu khoa học nào nên đi theo con đường này và sớm chuyển đổi”. Khi nghiên cứu kỹ cơ chế “tự làm tự sống” này, ông nói “sao thấy còn băn khoăn quá”.
Ông cho biết, lâu nay viện của ông mỗi năm được 800 triệu đồng ngân sách để chủ yếu là chi trả lương cho cán bộ khoa học theo mức lương cơ bản của Nhà nước. Ông làm ngay một con tính: “Để có 800 triệu đồng nuôi bộ máy mỗi năm thì chúng tôi phải có doanh thu cỡ 24 tỉ đồng, với mức lợi nhuận vào khoảng hơn 3%. Đó mới chỉ là lương cơ bản thôi, chứ còn nhiều khoản chi trả khác nữa... Giả sử viện của tôi chuyển đổi hoạt động theo cơ chế “tự làm, tự sống” hoàn toàn, với điều kiện hiện tại như vậy thì có lẽ sẽ rất khó khăn, chắc không chịu nổi...”. Ông Lâm cũng cho biết hiện đang chờ hướng dẫn thực hiện việc chuyển đổi hoạt động theo cơ chế mới của Viện KH&CN VN. Nhưng theo ông, có lẽ Viện Khoa học vật liệu ứng dụng chỉ có thể chuyển đổi hoạt động theo cơ chế “tự làm, tự sống” đối với một bộ phận nhỏ trong viện là xưởng thực nghiệm...
Còn tại Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, nơi có 400 cán bộ nghiên cứu và khoảng 100 nhân viên theo dạng hợp đồng, thì có không khí khác hơn. GS.TS Phạm Văn Biên - viện trưởng - tỏ ra hứng thú với cơ chế “tự làm tự sống”. Ông nói nếu muốn sống với cơ chế mới này thì các viện nghiên cứu phải có những thay đổi căn bản của nếp làm khoa học trong 30 năm nay.
Ông cũng nói cơ chế mới mở ra nhiều cơ hội nhưng đó lại là thử thách rất lớn cho chính các nhà khoa học. Viện Khoa học nông nghiệp miền Nam mỗi năm nhận 11 tỉ đồng ngân sách để nuôi bộ máy và trang trải các khoản chi phí hoạt động. Phấn đấu đến năm 2010 viện có thể tự nuôi được bộ máy. Tuy nhiên, đó chỉ là mục tiêu để phấn đấu, chứ còn việc nuôi sống hàng trăm con người ở viện mà không nhờ vào ngân sách nuôi thì có lẽ sẽ rất vất vả và không dễ dàng để thực hiện.
Trong khi đó, tại Viện KH&CN VN - nơi có khoảng 3.000 con người làm việc và ngân sách rót về đây mỗi năm khoảng 250 tỉ đồng, viện trưởng Viện KH&CN VN Đặng Vũ Minh cho rằng: “Trước mắt nên làm thí điểm ở một vài đơn vị, sau đó rút kinh nghiệm rồi mới làm tiếp”. Ông Minh khẳng định: “Theo tôi, làm thận trọng là hay nhất, bởi việc thực hiện theo cơ chế mới này tác động đến hàng nghìn con người làm khoa học”. Đến cuối tháng 7-2006 tại Viện KH&CN VN chưa thấy có đơn vị trực thuộc nào chủ động đề xuất kế hoạch “tự làm tự sống”. Hầu hết đều “đang chờ hướng dẫn và quyết định của Viện KH&CN VN”.
Một trong những băn khoăn nhất của một số viện nghiên cứu là ở chỗ không vốn, không nhà xưởng thực nghiệm, không sản phẩm nghiên cứu nào có thể bán và cạnh tranh được, trong khi đội ngũ lại kém năng động và kém thích ứng với cơ chế thị trường... Vì vậy, có tâm lý e ngại khi phải sống với cơ chế mới, khi “bầu sữa ngân sách” bị cắt cũng là điều dễ hiểu.
Đó còn là hậu quả để lại của mấy chục năm làm khoa học theo lối được “nuôi” từ A đến Z! Nhưng quan điểm nhất quán của Bộ KH&CN là kiên quyết đổi mới: không thể bao cấp mãi cho hầu hết các hoạt động KH&CN của quốc gia, cũng giống như việc không thể bù lỗ mãi cho những doanh nghiệp nhà nước cứ làm ăn thua lỗ triền miên và làm ăn kém hiệu quả...
Cơ hội để tập... làm ăn Phải nhìn nhận rằng nghị định nói trên cũng chỉ mới là tiền đề, là điều kiện cần cho sự phát triển của các tổ chức và cá nhân trong hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Theo tôi, với cơ chế mới này, một mặt đòi hỏi những người đứng đầu của các tổ chức KH&CN phải hết sức năng động tìm kiếm, xác định những vấn đề nghiên cứu; tìm kiếm nguồn vốn để đầu tư trang thiết bị hỗ trợ công tác nghiên cứu; tìm kiếm khả năng hợp tác trong và ngoài nước để triển khai, tiếp thị và chuyển giao kết quả nghiên cứu... Mặt khác, về phía Nhà nước cần có sự đánh giá, phân loại các tổ chức KH&CN để có những chính sách hỗ trợ ban đầu cho việc chuyển đổi cơ chế hoạt động. Nói cách khác là phải có một khoảng thời gian cần thiết và một số hỗ trợ ban đầu phù hợp với từng loại hình tổ chức KH&CN để giúp quá trình chuyển đổi thành công mà không làm lãng phí nguồn tài nguyên con người có kiến thức và kinh nghiệm trong chuyên môn, nhưng chưa thích ứng được với nền kinh tế thị trường. Tôi nghĩ rằng Nghị định 115 sẽ thật sự mở ra cơ hội cho các nhà khoa học làm ăn và tạo đà phát triển mới cho KH&CN nước ta. Tuy nhiên, theo tôi, liệu pháp “sốc” trong quản lý KH&CN không phải là giải pháp tốt mà cần xem xét áp dụng một liệu pháp dung hòa trong chuyển đổi, tái cấu trúc các tổ chức KH&CN, tạo ra điều kiện để sử dụng đúng và hợp lý nguồn lực KH&CN. PGS.TSLê Hoài Quốc(ĐH Bách khoa, ĐH Quốc gia TP.HCM) |
Nguồn: tuoitre.com.vn, 06/08/2006








