Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 27/02/2007 17:57 (GMT+7)

Cùng tình yêu ở lại

- Dạo này ngoài đó Quỳnh nó sống thế nào? Vui hay buồn?

Người kia trả lời:

- Em gái chị là một người đặc biệt, nên vui cũng vui hơn người khác mà buồn cũng buồn hơn người khác. Làm sao mà trả lời cho rành được...

Bài thơ Thơ tình cuối mùa thulà một bài thơ ghi lại một khoảnh khắc vui buồn như thế trong cuộc đời của nhà thơ. Bài thơ được sáng tác vào khoảng năm 1969 -1970. Đây là một trong những bài mang đúng giọng điệu của Xuân Quỳnh, của một người phụ nữ có trái tim nồng nhiệt chân thành và đằm thắm, luôn khao khát yêu thương nhưng dường như lúc nào cũng băn khoăn... Giọng điệu đó được cảm thấy trong sự kết hợp giữa hình tượng và lời thơ trong tác phẩm, như phải thế chứ không thể khác:

Cuối trời mây trắng bay

Lá vàng thưa thớt quá

Phải chăng lá về rừng

Mùa thu đi cùng lá

Mùa thu ra biển cả

Theo dòng nước mênh mang

Mùa thu vào hoa cúc

Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em

Là của mùa thu cũ

Chợt làn gió heo may

Thổi về xao động cả:

Lối đi quen bỗng lạ

Cỏ lật theo chiều mây

Đêm về sương ướt má

Hơi lạnh qua bàn tay

Tình ta như hàng cây

Đã qua mùa gió bão

Tình ta như dòng sông

Đã yên ngày thác lũ

Thời gian như là gió

Mùa đi theo tháng năm

Tuổi theo mùa đi mãi

Chỉ còn anh và em

Chỉ còn anh và em

Cùng tình yêu ở lại

- Kìa bao người yêu mới

Đi qua cùng heo may

Mở đầu bài thơ là những phác hoạ trong bức tranh cảnh vật thường gặp vào cuối thu: Mây trắng đang bay về đâu đó xa xăm và mờ ảo, những chiếc lá vàng cuối cùng tần ngần chưa muốn rời cây... Nhưng điều đáng chú ý là chắc không phải vô tình mà trong những câu thơ tả cảnh này lại song hành các từ có nét nghĩa gần gũi nhau, là cuốiquá:

Cuối trời mây trắng bay

Là vàng thưa thớt quá

Trong tiếng Việt, cuốichỉ phần ở gần điểm giới hạn, chỗ hoặc lúc sắp kết thúc; còn quádùng với ý cảm thán như trong câu trên, để đánh giá rằng tính chất hay trạng thái nói đến đã ở bên ngoài điểm giới hạn (mức được lấy làm mốc). Thế là trong cái nhìn đầy tâm trạng của nhà thơ “mây trắng bay” và “lá vàng thưa thớt” kia không còn là bình thường nữa, mà đã hoặc đang đi đến điểm tận cùng. “Mùa thu” trong cuối mùa thu(ở nhan đề bài thơ) cũng sắp tận cùng...

Thế nhưng thực tế điều ấy chẳng có gì bất thường cả. Hay là bất thường chỉ là do ta tưởng thế? Trong câu tiếp theo đó, bằng cụm từ phải chăng( Phải chăng lá về rừng), nhà thơ dè dặt phân vân khi nhận xét đầy vẻ suy tư rằng các sự nhân hoá ấy đang chuyển đến một nơi khác, rời khỏi nơi nhân vật vừa tự sự vừa trữ tình và cũng là chính nhà thơ đang quan sát. Đó là những cuộc ra đi ồn ào, được biểu thị qua hàng loạt từ chỉ sự chuyển động: về, đi, ra, theo, vào. Mùa thu phân thân, rồi kết thành đôi với các sự vật khác, để đến nơi khác như đến những điểm hẹn, hoặc cũng như trở lại nơi khởi nguồn:

Lá về rừng, và mùa thu đi cùng lá(về rừng)

Mùa thu theo dòng nước mênh mang ra biển cả

Mùa thu vào(với) hoa cúc...

Sự ra đi (để rồi đến) như thế đã tạo nên một sự tương phản, chuẩn bị tâm thế cho một sự bất thường đích thực: Chỉ còn anh và em là không đi cùng ai và không theo ai, anh và em ở lại...

Nhân đây cần phải nói thêm rằng trong nhiều bài thơ của Xuân Quỳnh, có những từ ngữ thường được dùng với nghĩa ẩn dụ. Một số trong đó là biển, mây, hoa cúcmùa thu... Chẳng hạn biển(hay biển cả)dùng để biểu tượng cho khát vọng hiến dâng và tình yêu vĩnh hằng:

Làm sao được tan ra

Thành trăm con sóng nhỏ

Giữa biển lớn tình yêu

Để ngàn năm còn vỗ

                 (Sóng)

Mây được dùng với nghĩa tượng trưng cho sự phóng túng hết mình của một thời ngày xưa:

Hoa tường vi của những ngày xưa

Tôi vẫn nhớ một màu mây phiêu lãng

                   (Hoa tường vi)

mùa thu, hoa cúc(hay màu vàng hoa cúc) gợi nhớ về những kỷ niệm, sự chia tay và nuối tiếc:

Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế

Chỉ em là đã khác với em xưa

                    (Hoa cúc)

Cũng có thể mùa thu chưa hết

Vẫn đang còn lưu luyến khách đi qua

Cũng có thể là tôi đến chậm

Thấy màu mây rừng lá tưởng còn thu....

                     (Không đề)

Tóm lại, trong thơ Xuân Quỳnh, biển, mây, hoa cúcmùa thu... thường được dùng để diễn tả mộng mơ và liên tưởng đến những gì đang hoặc đã đi qua, với kì vọng chúng còn lại mãi.

Một trong những vẻ độc đáo của thơ Xuân Quỳnh là trong những vần thơ của chị ta gặp niềm vui bất tận và sự cả tin dại khờ, lại có cả sự từng trải ngờ vực, cả nỗi đau xót trước cái mong manh và không hoàn thiện, cả cô đơn và tuyệt vọng u buồn. ở khổ thơ thứ hai của Thơ tình cuối mùa thu, có một nỗi thảng thốt buồn như thế.

Đó là lúc làn gió heo may chợt thổi về. Bình thường thì những cơn gió như thế, cũng như sự ra đi và ở lại, chẳng có gì đặc biệt. Thế nhưng với sự nhạy cảm trong cái tôi cô đơn của nhân vật – nhà thơ, làn gió heo may khô và lạnh báo hiệu mùa thu đang qua và mùa đông tới như thế đã đánh thức (hoặc như cách nói của nhà thơ là xao động) một điều gì đó trong tâm sự sâu xa, để rồi có những cảm nhận khác về cảnh vật và về chính mình:

Lối đi quen bỗng lạ

Cỏ lật theo chiều mây

Đêm về sương ướt má

Hơi lạnh qua bàn tay

Nhân đây, xin nói thêm rằng trong một số bài thơ của Xuân Quỳnh, gió heo maythường được dùng với một dự cảm bất trắc:

Gió heo may hôm nay về chăng

Mà chuồn chuồn bay về dăng dăng

Báo cơn bão phương nào thổi tới

   (Chuồn chuồn báo bão)

ở cuối khổ thơ thứ hai trong Thơ tình cuối mùa thucó một cách nói đáng chú ý: Người đọc có thể hiểu là nhà thơ lấy sự kiện này để ngầm ẩn đến một sự kiện khác (không được nhắc đến) dựa vào sự liên tưởng logic nảy sinh trên quan hệ giữa chúng:

Đêm về sương ướt má

Hơi lạnh qua bàn tay

Làn gió heo may làm lạnh bàn tay, và là lúc đêm về, những giọt sương chạm vào mặt người, làm ướt má - Tất cả những điều đó là thực tế, nhưng có thể đó chỉ là một điểm tựa của cách nói vòng. Sự liên tưởng đã đặt trước người đọc những câu hỏi phân vân: Sương đêm làm ướt má hay đó là những giọt nước mắt bất chợt như từ trong vô thức, trong một nỗi niềm cảm hoài. Bàn tay lạnh vì gió heo may, hay lạnh vì sự trống vắng trong nỗi nhớ những khi bàn tay hai người tìm đến nhau...

Cụm từ chỉ còn anh và emđược lặp lại ở tất cả cá khổ thơ, nhưng ở những vị trí không hoàn toàn đồng nhất: Trong khổ thứ nhất và thứ ba, nó ở cuối; Còn trong khổ thứ hai và thứ tư, nó ở đầu. Cách tổ chức văn bản như vậy đã tách bài thơ ra thành hai phần (hai khổ thơ là một phần) , và điều đó phải được hiểu là dụng ý của nhà thơ: Chỉ còn anh và emở khổ đầu của mỗi phần nhằm diễn tả một hiện thực, còn ở khổ sau của mỗi phần thì nó chỉ là một khía cạnh của hiện thực. Còn một khía cạnh khác sẽ được nói đến sau đó. So sánh:

       - Chỉ còn anh và em

với : - Chỉ còn anh và em

    Là của mùa thu cũ

-                                 Chỉ còn anh và em

Cùng tình yêu ở lại

Khía cạnh còn lại của hiện thực Chỉ còn anh và em, Là của mùa thu cũở khổ thơ đang xét cho thấy có hai mùa thu cùng hiện hữu: một mùa thu của đất trời (đang ra đi, sắp tận cùng), và một mùa thu trong tâm tưởng ( mùa thu cũ) như nỗi nhớ về những kỉ niệm, là kí ức về mùa thu. Mùa thu này gợi nhớ đến mùa thu khác. Không biết làn gió heo may của mùa thu nào đã khiến lối đi quen bỗng lạ, hơi lạnh qua bàn tay và đêm về sương ướt má, hay đem lại cảm giác trơ trọi và se lạnh trước cuộc đời như thế?

Những người “vui cũng vui hơn người khác mà buồn cũng buồn hơn người khác” như Xuân Quỳnh, thường có một cá tính là nhiều dự cảm và thiếu nhẫn nại. Trong thơ chị, nhân vật – nhà thơ dường như đơn độc trong những khát vọng, đồng thời luôn cảm thấy phía trước là bất hạnh, nhưng lại có vẻ rất liều lĩnh dấn thân... Điều đó khiến người đọc hồi hộp, đôi khi lo lắng cho nhân vật và nhà thơ.

ở khổ thơ thứ ba, có một cách nói rất thường gặp trong thơ ca với mục đích tu từ, là so sánh. Với sự thạm gia của từ như, cách so sánh như vậy có căn cứ là nét tương đồng nào đó giữa hai đối tượng khác loại (đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh), với mục đích là diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm nào đó của đối tượng được so sánh. Trong những câu thơ này, nét tương đồng như thế không hiển ngôn, mà ngầm ẩn dựa vào sự liên tưởng:

Tình ta như hàng cây

Đã qua mùa gió bão

Tình ta như dòng sông

Đã yên ngày thác lũ

Theo cách như vậy, tình tađã được so sánh với hàng cây (đã qua mùa gió bão)dòng sông (đã yên ngày thác lũ). Hàng cây và dòng sôngnhư thế có những đặc tính gì, và trong số các đặc tính đó thì nét nào được xem là tương đồng với tình ta? Trong sử dụng ngôn từ tiếng Việt, mùa bão gióchỉ khoảng thời gian thường xuyên có gió xoáy kèm theo mưa lớn, còn ngày thác lũchỉ khoảng thời gian nước dâng cao dồn vào một khu vực nào đó rồi đổ mạnh xuống khu vực thấp. Điểm chung cho hai cụm từ trên là đều ngầm chỉ khoảng thời gian không bình yên, bất lợi đối với các sự vật có liên quan (hàng cây và dòng sông).Qua mùa bão gióyên ngày thác lũ, hàng cây không còn nghiêng ngả nữa và dòng sông trở lại bình lặng mênh mang. Tình yêu của các nhân vật (anh và em) trong bài thơ cũng thế. Tuy nhiên, có vẻ như khác với lẽ thường, đối với một số tạng người, đặc biệt với những ai hay liều lĩnh dấn thân, nhiều dự cảm và thiếu nhẫn nại, thì đôi khi sự bình lặng lại không phải là điều mong đợi. Điều này khiến ta nhớ đến cánh buồm trăng trắng cô đơn trong bài thơ Cánh buồmnổi tiếng của nhà thơ Nga M.I. Lermontop, một cánh buồm dường như chỉ cảm thấy bình yên trong dông bão.

Nhưng sự bình lặng đang nói đến chỉ là một thực tế trong câu chuyện tình yêu. Còn có một thực tế khác ngay bên cạnh, lạnh lùng và tàn nhẫn: Thời gian vẫn không ngừng trôi qua, từng tháng, từng năm, từng mùa thu, cuốn tất cả về tận cùng. Đến cuối mùa thu (của đất trời và của đời người), chợt ngoảnh lại thấy thời gian như là gió...

Thế là có một thông điệp khác, ngoài ý nghĩa bề mặt của ngôn từ, và đó cũng là đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca: Sự diến tả cái bình yên hiện tại cốt để ngầm ẩn nỗi luyến nhớ về một quá khứ khổ đau và hạnh phúc, về bão tố và sóng gió, ngầm ẩn cả nỗi thất vọng trước sự ngắn ngủi của một thời sôi nổi, trẻ trung đã qua...

Và rồi, cũng như thường thấy trong nhiều bài thơ khác của Xuân Quỳnh, ở khổ thơ cuối cùng của Thơ tình cuối mùa thuta lại gặp kì vọng rằng có một cái gì đó vĩnh hằng, bất chấp thời gian và mùa thu đi qua, mây trắng bay cuối trời, lá vàng thưa thớt và gió heo may...

Chỉ còn anh và em

Cùng tình yêu ở lại

So với câu thơ ở đầu khổ thứ hai Chỉ còn anh và em, Là của mùa thu cũ, câu thơ ở đầu khổ thứ tư này bộc bạch rõ ràng hơn, như một quá trình từ đại khái đến cụ thể, từ một ẩn dụ chung chung (mùa thu cũ)đến một tình cảm xác định của nam và nữ (tình yêu).Tuy nhiên, điểm chung giữa những cái được biểu hiện trong mùa thu cũtình yêulại là cùng thuộc phạm trù ý thức chủ quan và chủ yếu là ở trong quá khứ...

Thế cho nên trong khi tự an ủi rằng anh và em không đơn độc mà ở lại cùng với tình yêu, thì nhân vật - nhà thơ vẫn chăm chú nhìn xa và nói (với ai đó hoặc chỉ với chính mình) như đang băn khoăn, rằng kìa những người yêu nhau đang đi qua cùng với gió heo may, đến với rừng với biển, với gió bão và thác lũ..., như tình yêu phải thế và như chuyện tình yêu muôn đời là thế.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.