Công nghệ sinh học Việt Nam và vốn quý ở nước ngoài
Có điều, việc gửi 1.000 sinh viên ngành CNSH ra nước ngoài học tập mỗi năm không phải là chuyện dễ dàng, và phải chờ đợi 10 năm sau mới hy vọng gặt hái kết quả. Một sự đầu tư đắt giá trong khi ViệtNamđang cần phát triển nhanh và ít tốn kém. Như trong mọi lĩnh vực, CNSH cần nhất là nhân sự. Chỉ cần một ý tưởng tốt là có thể tạo ra được những sản phẩm trị giá hàng triệu đô la từ vài hạt giống hay từ những tế bào. Nói một cách khác, chúng ta đang cần những cán bộ đầu đàn trình độ thế giới để có thể thực hiện được những chương trình mang tầm cỡ quốc tế. Vốn của chúng ta ít song không có nghĩa là không có. Nếu đầu tư có hiệu quả, với chính sách mở cửa như hiện nay, thì vốn không phải là vấn đề then chốt. Khi hiệu quả đầu tư cao thì ai cũng muốn góp vốn, kể cả tư nhân hay nước ngoài. Nhưng để đào tạo được một cán bộ đầu đàn là điều không đơn giản. Và trong bối cảnh hiện tại Việt Nam khó có thể chờ đợi để áp dụng một chiến lược đào tạo dài hạn như Trung Quốc đã làm từ những năm 1980, mà chỉ đến nay họ mới bắt đầu thu gặt thành quả. Họ đã gửi sinh viên đi học trong mọi điều kiện, họ khuyến khích và tạo điều kiện để sinh viên của họ ở lại làm việc, và giờ đây họ đang trải thảm đỏ kêu gọi người tài về nước làm việc.
Với ViệtNam, số lượng người Việt đang làm việc trong lĩnh vực CNSH trên thế giới khá đông. Những người thành đạt cũng không ít. Họ đều có chung ước vọng về làm việc cho quê hương sau nhiều năm ở nước ngoài, nhất là những người đã thành đạt ít nhiều. Cũng có nhiều người muốn trở về không phải chỉ đơn thuần vì nỗi nhớ quê cha đất tổ mà còn do khát vọng vượt lên chính mình, trên những thách thức của khoa học mà họ tin rằng mình có thể vượt qua ngay tại ViệtNam.
Nói đến CNSH không thể không nói đến sinh học phân tử, nền tảng của CNSH. Trước đây, người ViệtNamra nước ngoài thường không thích học sinh học, vì có tâm lý cho rằng sinh học đồng nghĩa với nông nghiệp, với chăn nuôi, cày cấy. Bắt đầu từ những năm 1980, học sinh ViệtNamtheo học ngành sinh học phân tử ngày càng nhiều. Nhiều người Việt đang giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan nghiên cứu ở nước ngoài.
Vài gương mặt người Việt nổi tiếng về CNSH
Ông Ramassamy Charles, người Canada, có mẹ là người Việt, sinh ra tại Việt Nam, hiện đang là một chuyên gia giỏi về nghiên cứu tế bào thần kinh ở mức độ sinh học tế bào và phân tử. Ông có hoài bão giúp ViệtNamsong chưa tìm được con đường thật cụ thể, hữu hiệu. Tiến sĩ Lê Quốc Sính, Giám đốc phụ trách nghiên cứu Viện CNSH Armand Frapper (Québec,Canada), đang có nhiều chương trình giúp ViệtNam… từ xa. Tiến sĩ Huỳnh Chương là người phụ trách Chương trình tin sinh học (Bioinformatic) của Viện Thông tin về CNSH Hoa Kỳ, là một trong những người am hiểu sâu sắc về tin sinh học, đang giúp Việt Nam thông qua các chương trình của Chính phủ Mỹ hoặc Liên hợp quốc. Nếu một ngày nào đó anh Chương có thể về ViệtNamlàm việc thì chắc chắn ViệtNamsẽ có được một chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực này.
Ông Nguyễn Thái, Việt kiều Mỹ, đang làm việc cho Công ty Gingobio Nhật Bản. Ông là người phát hiện ra gen liên quan đến bệnh mù mắt glaucoma, là người có nhiều kinh nghiệm trong sinh học phân tử y khoa. Ông là người đang nỗ lực tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt khoa học ở nước ngoài cho các viện, trường ở ViệtNam. Một ví dụ khác là tiến sĩ Lê Hùng, Việt kiều Mỹ, đang làm việc cho một công ty dược phẩm đa quốc gia lớn của thế giới chuyên về các cấu trúc liên quan tới tính năng của protein, nhất là protein trong dược phẩm. Khi nói tới những sản phẩm generic về dược sinh học, có lẽ tiến sĩ Hùng là một trong những người có nhiều kinh nghiệm có thể giúp ViệtNam...
Đó là số ít những người mà tôi trực tiếp trao đổi. Những người này rất nặng lòng với quê hương, dù cho họ chưa thể trở về ViệtNamlàm việc một cách vô điều kiện.
Điều kiện để trở về
Vấn đề lớn nhất có ảnh hưởng đến quyết định trở về hay không trở về của trí thức kiều bào là nơi làm việc và hiệu quả làm việc. Đối với những người đặt hiệu quả công việc lên trên hết, thì việc họ trở về phụ thuộc nhiều vào điều kiện làm việc mà họ hy vọng có khả năng thành công. Do vậy, những trung tâm nghiên cứu tầm vóc quốc tế hay khu vực có sức hấp dẫn mạnh đối với họ. Cách làm việc kém hiệu quả ở một số cơ quan của ViệtNamlà một trong những trở ngại đối với những con người “khó tính” này.
Nếu Chính phủ kêu gọi được những người này về làm việc thì chúng ta có thể tiết kiệm được một khoảng thời gian đáng kể, theo tôi ít nhất là năm năm, nếu không nói là mười năm. Thời gian là vàng, là tiền bạc. Những nhà nghiên cứu giàu kinh nghiệm không chỉ làm đầu tàu cho các hoạt động khoa học, là cầu nối với các đồng nghiệp bên ngoài, mà còn là mầm mống cho những phong cách làm việc mới.
Tất nhiên, khi chế độ lương bổng của ViệtNamcòn có khoảng cách khá xa so với thế giới, việc lấy lương để cạnh tranh là điều khó thực hiện được ngay. Theo tôi, trước mắt có thể kêu gọi được hai đối tượng đang ở nước ngoài về làm việc cho ViệtNamngay. Một là những người rất giàu kinh nghiệm, vừa mới về hưu (hay khuyến khích họ về hưu trước hạn tuổi). Những chuyên gia này thường có “chỗ dựa vững chắc” là lương hưu và những phúc lợi xã hội, là những người đặc biệt trăn trở với quê hương. Con cái họ đã trưởng thành. Ngoài kiến thức chuyên môn, họ còn có nhiều mối quan hệ quan trọng mà chúng ta đang cần. Đặc biệt, họ có tầm nhìn tổng quát trong chiến lược phát triển.
Hai là những người vừa mới ra trường một vài năm, có nhiều hoài bão mà chưa tìm được công việc thích hợp. Đây là những người đang sở hữu những kỹ thuật tiên tiến nhất, không bị “sức ép” nhiều về mặt lương bổng. Họ là những người tràn đầy tính sáng tạo, mặc dù có hạn chế về kinh nghiệm. Riêng thế hệ tuổi 40-50, là thế hệ vừa có nhiều kinh nghiệm vừa có kiến thức, đang trong độ tuổi làm việc sung mãn nhất, có thể trở về nước khi có những lợi thế về đầu tư, kinh doanh hoặc cơ hội phát triển chuyên môn.
Với lực lượng trí thức người Việt ở nước ngoài hùng hậu, cộng thêm lớp con em thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra và lớn lên ở nước ngoài, ViệtNamđang “sở hữu” một nguồn tài sản tri thức quý báu. Vấn đề là làm sao huy động được nguồn lực đó.
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn15/12/2005







