Con người dưới góc nhìn y học phương Đông: Tú tài học y - Bắt gà trong lồng
Đặc điểm nổi bật về phương diện lý luận của đông y là rất nhiều phạm trù và khái niệm của đông y, cũng chính là những phạm trù và những khái niệm của đạo học. Đạo là y và y cũng là đạo. Chính vì vậy thời xưa “y học” thường được mệnh danh là “y đạo” và người xưa thường nói: “Đạo nhờ có y mà sáng tỏ” (Đạo dĩ y hiển). Nghĩa là: y học là nơi thể hiện tập trung và rõ ràng nhất nguyên lý của đạo. Cũng chính vì giữa đạo và y không có đường phân ranh rõ rệt, nên tục ngữ thời xưa còn có câu: “Tú tài học y, dễ như bắt gà trong lồng” (tú tài học y, lung trung tróc kê).
Tú tài hay nho sinh, học y dễ dàng như bắt gà trong lồng chủ yếu bởi vì, người có trình độ tú tài, do đã sẵn có những hiểu biết và phương thức tư duy của đạo, nên đã nắm vững được những vấn đề cốt lõi nhất của y lý, chỉ cần bổ túc thêm về phương pháp khám bệnh, chữa bệnh và ghi nhớ một số bài thuốc là đã có thể bắt đầu chữa bệnh cứu người.
Mặt khác, trong xã hội thời xưa, nho sinh, sĩ phu chỉ có một con đường tiến thân duy nhất, đó là khoa cử. Nếu như chẳng may thi không đỗ, thì giá trị của họ chẳng đáng nửa xu. Do đó, để phòng khi sa cơ lỡ nước, ngay từ khi bắt đầu cắp sách đi học, ngoài những sách cơ bản phải học như “ Tứ thư” (Luận ngữ, Mạnh Tử, đại học trung dung), “ Ngũ kinh”(Thi, thư, lễ, dịch, xuân thu)... nho sinh còn thường học thêm cả đông y, thuật số, mệnh lý, phong thuỷ... Từ đó hình thành một tầng lớp trí thức thông thạo tất cả những bộ môn nho, y, lý, số.
Đọc lại sử sách có thể thấy, trong xã hội thời xưa, có rất nhiều trường hợp được gọi là “ Thừa nho quáy”; Hiện tượng các nhà nho, nhân có sẵn kiến thức về Nho học, mà chuyển sang thực hành chữa bệnh. Có những người trở thành thấy thuốc chuyên nghiệp, nhưng cũng có người chỉ làm thuốc theo kiểu nghiệp dư. Những người như vậy, thường được gọi là các “Nho y”.
Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, Chu Văn An, Phan Phù Tiên, Nguyễn Quý, Nguyễn Đình Chiểu... ở Việt Nam; Trương Trọng Cảnh, Thẩm Quát, Tô Đông Pha, Trần Tu Viên... ở Trung Quốc; đều là những nhân vật như vậy. Ở đây chỉ điểm qua đôi nét chính yếu, về một số vị nho y của Việt Nam ta.
- Tuệ Tĩnh: ông tổ của nghề thuốc Việt Nam, vốn là người xuất thân từ giới đạo học. Ông là người làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thai, huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương – nay là thôn Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Theo truyền thuyết ghi trong thần tích của làng Nghĩa Phú: Tuệ Tĩnh từng đỗ Thái học sinh, nhưng không ra làm quan mà vào chùa, chuyên tâm nghiên cứu và sưu tầm các loại cây cỏ, để làm thuốc cứu giúp dân nghèo.
Tuệ Tĩnh để lại 2 tác phẩm lớn: “Hồng nghĩa giác tư y thư” và “Nam dược thần hiệu”. Đó là những bộ sách thuốc thuộc loại cổ nhất của Việt Nam còn lưu truyền cho đến ngày nay.
“ Nam dược thần hiệu” là bộ sách hướng dẫn thực hành, ghi lại những phương thuốc và phương pháp chữa bệnh hiệu nghiệm.
Trong những thế kỷ trước, sách này thường được các gia đình sao chép và cất giữ như của gia bảo. Nhờ thế nên trải qua bao chiến tranh, loạn lạc, sách vẫn lưu truyền tới ngày nay.
“ Hồng nghĩa giác tư y thư” là bộ sách lý luận tinh tường, sâu sắc và giàu tính sáng tạo, bao gồm toàn bộ những vấn đề cơ bản của y lý. Những phép kinh tắc kinh điển của đông y đã được Tuệ Tĩnh vận dụng một cách linh hoạt cho phù hợp với đặc điểm con người và điều kiện thời tiết khí hậu Việt Nam. Điều đáng chú ý là, sách được viết bằng văn vần, riêng bài “ Thập tam phương gia giảm” còn được viết bằng thơ lục bát - một thể thơ rất gần gũi với nếp suy nghĩ của người Việt. Nhờ vậy, nên sách của Tuệ Tĩnh mau chóng nhập tâm và rất dễ ghi nhớ. Có thể, đó cũng là một trong những lý do khiến “Hồng nghĩa giác tư y thư” đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của rất nhiều thế hệ các thầy thuốc Việt Nam.
Tuệ Tĩnh là người đầu tiên đưa ra ngôn: Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt . Và để chứng minh “tính khả thi” của phương châm này Tuệ Tĩnh đã viết “ Dục huệ sinh dân / Tu tầm thánh dược / Thiên thư dĩ định Nam bang / Thổ sản hà thù Bắc quốc”. Nghĩa là: Muốn cứu dân sinh, phải tìm thuốc thánh. Thiên thu đã định phận nước Nam, thổ sản có khác gì Bắc quốc. Phương châm này không những có vai trò quan trọng đối với việc nêu cao tinh thần dân tộc, mà còn có ý nghĩa học thuật rất sâu sắc: Thúc đẩy việc tìm tòi, nghiên cứu sử dụng những dược liệu sẵn có trong nước, giúp cho các thầy thuốc Việt Nam thoát khỏi con đường mòn lệ thuộc vào thuốc bắc, mạnh dạn sử dụng thuốc nam trong phòng trị bệnh. Khi đánh giá về vai trò của Tuệ Tĩnh, E.Gaspardone – nhà thư mục học nổi tiếng người Pháp đã viết trong sách Thư mục Việt Nam (Bibliographie Annamite) - Tạp chí của Trường Viễn Đông Bác Cổ xuất bản năm 1934: Có thể nói không quá đáng rằng Tuệ Tĩnh là người sáng lập thực sự ra nghề thuốc Việt Nam; về sau Lãn Ông chỉ là người tuyên truyền rất có hiệu quả của nghề này. Thực tế, Tuệ Tĩnh luôn luôn được coi như vị thánh thuốc nam, người thầy của những người hành nghề y dược cổ truyền Việt Nam...”.
- Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông, người xã Liêu Xá, huyện Thượng Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương cũ. Ông là con thứ 7 của quan Binh bộ Thượng thư Lê Hữu Kiều, từng đỗ hương cống, nhưng không ra làm quan. Năm 34 tuổi, bước vào con đường nghiên cứu y học, sau nổi tiếng là một đại danh y. Cuối đời, ông về ẩn cư ở quê ngoại, tại xã Tình Diệm, xứ Bầu Thượng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (có sách chép là ẩn cư ở Nghệ An). ông đã trước tác bộ “ Y tông tâm lĩnh”, còn gọi là “ lãn ông y tập”, gồm 66 quyển, khảo cứu về y lý và thảo dược, được lưu truyền cho tới ngày nay.
- Chu Văn An(1292 - 1370), quê ở làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm - nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chu Văn An không chỉ có cống hiến lớn lao về giáo dục và văn học, mà còn để lại tác phẩm “ Y học yếu giải” - một di sản quý giá về đông y học. Theo sách “ Chu Văn An và Y học yếu giải”: Tuy không là thầy thuốc chuyên nghiệp, nhưng ông thường hay đọc sách thuốc, để chữa bệnh cho mình và cho gia đình. Lâu ngày, nhiều người biết tiếng, cũng tìm đến xin ông chữa bệnh. Nhân thấy y học nước nhà cần bổ cứu, ông đã soạn ra tập “Y học yếu giải”, nói về những điều cốt lõi của y đạo, để góp phần mở mang dân trí, dạy cho dân biết cách dùng thuốc chữa bệnh, để bảo vệ sức khoẻ, giữ gìn giống nòi.
- Phan Phù Tiên, tự Tín Thần, hiệu Mặc Hiên, tuy là một nho sĩ thành công, nhưng cũng rất chú trọng vấn đề y học. Ông người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông thời xưa. Đỗ Thái học sinh khoa Bính Tý (1396), đời Trần Thuận Tông; sau còn đỗ thêm khoa Minh kinh (1429), giữ chức Tri quốc sử viện, sau giữ chức Quốc sử bác sĩ tại Quốc Tử Giám. Đã soạn sách “ Bản thảo thực vật toản yếu”, nói về tính năng và tác dụng của một số vị thuốc thường dùng.
- Nguyễn Trực, tự Công Đĩnh, hiệu Hu Liêu, cũng là một Nho sĩ thành đạt,nhưng cũng rất chuyên tâm nghiên cứu y học. Ông người làng Bối Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ. Đỗ trạng nguyên năm Thái Hoà, đời Lê Nhân Tông, từng giữ chức Hàn lâm viện thị giảng kiêm Quốc Tử Giám tế tửu. Soạn ra cuốn sách “ Bảo anh lương phương”, ghi chép những bài thuốc trị bệnh hiệu nghiệm.
Danh sach Nho y trong lịch sử nước nhà, tất nhiên còn có thể nối dài thêm nữa. Nhưng dù có nói thêm, thì cũng chỉ dẫn tới cùng một kết luận: Không thông Đạo, không tinh thông triết học phương Đông, sẽ không thể trở thành thầy thuốc đông y chân chính. Trước khi kết thúc, xin nói thêm về một nhà báo rất quen thuộc, đó là Ngô Tất Tố, một nhân vật thuộc hệ Nho sinh cuối cùng, trước khi hệ thống giáo dục ngày nay thay thế Nho học. Ngô Tất Tố là một nhà văn – nhà báo nổi tiếng, đó là điều mọi người đều biết. Thế nhưng, sự việc Ngô Tất Tố còn là thầy lang, đó là điều không nhiều người biết. Theo cụ thân sinh của người viết kể lại: Từ năm 1936, gia đình từng làm nghề in ấn và mở Nhà xuất bản Mai Lĩnh. Từng có rất nhiều cộng tác viên, như Phùng Bảo Thạc, Vũ Liên, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Doãn Kế Thiện, Phan Tất Đắc... Trong số đó, ba ông Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Phạm Cao Củng (chuyên viết tiểu thuyết kiếm hiệp) là những người đặc biệt thân thiết, có những thời gian dài ăn ở luôn tại nhà Mai Lĩnh, ở phố Hàng Điếu. Khi đó ngoài việc trước tác, Ngô Tất Tố còn hay chữa bệnh cho một số bạn văn (trong đó có Vũ Trọng Phụng, bị bệnh lao phổi) và những người trong nhà Mai Lĩnh. Ngô Tất Tố chữa bệnh rất mát tay, chữa các bệnh ngoại cảm và ngoài da rất giỏi. Một số bài thuốc của Ngô Tất Tố, còn được đưa vào sách “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi...
Như trên đã nói, đông y là một nơi thể hiện tập trung và rõ ràng nhất vũ trụ quan và nhân sinh quan của đạo, cho nên ngược lại: Cũng có thể thông qua đông y để tìm hiểu về đạo, cũng tức là “tòng y nhập đạo” – theo như cách nói của người xưa. Đối với chúng ta ngày nay, đông y có thể là một con đường tắt, giúp nhanh chóng bước chân vào thế giới của đạo. Như vậy, tìm hiểu đông y, không chỉ có thể mang lại những kiến thức thiết dụng, hữu ích đối với việc gìn giữ sức khoẻ, mà còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về phương thức tư duy phương Đông cổ đại, nhờ đó có thể thừa kế và phát huy tốt hơn, những di sản ông cha để lại.
Nguồn: Thế giới trong ta, số 262, 8/2006, tr 20








