Chữa sa sinh dục bằng Đông y
Dấu hiệu lâm sàng hay gặp là có cảm giác tức và nặng ở bụng dưới; nhất là khi đứng, nhưng khi nằm thì hết cảm giác đó. Đôi khi có cảm giác muốn rặn đẻ, hay bị đau vùng thắt lưng. Nặng hơn có thể thấy được cổ tử cung thập thò ở ngoài âm hộ (nếu sa độ 2); thậm chí cả cổ và thân tử cung sa ra ngoài âm hộ (nếu sa độ 3), trường hợp này thường kèm theo sa bàng quang và trực tràng gây khó chịu trong mọi sinh hoạt của phụ nữ.
Nguyên nhân sa sinh dục phần lớn do phụ nữ đẻ sớm, để nhiều, đẻ dày, khi sinh rách tầng sinh môn không khâu, đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, sau sinh lao động sớm, làm việc nặng, thiếu ăn, suy dinh dưỡng, cơ thể ốm yếu. Ngoài ra, một số trường hợp do dị dạng bộ phận sinh dục vị trí tử cung bất thường, cổ tử cung dài. Đông y có thể dùng thuốc điều trị sa sinh dục, nếu kết hợp thêm châm cứu, thể dục, kết quả thường rất khả quan. Theo Đông y, sa sinh dục thường có hai nguyên nhân chính là khí hư và thấp nhiệt.
1. Sa sinh dục thể khí hư: Đông y còn gọi là thể khí hư hạ hãm, có triệu chứng đi kèm với các mức độ sa sinh dục thường gặp là: người mỏi mệt, tim hồi hộp, hơi thở ngắn, bụng dưới nặng đầy, thắt lưng đau tức, đại tiện nhão, tiểu tiện nhiều lần, nước tiểu trong, bạch đới nhiều mà trắng loãng lưỡi nhạt, rêu mỏng, mạch hư, nhược.
Căn cứ nguyên tắc “hư giả bố chi”, “hãm giả cử chi”, Đông y điều trị thể bệnh này lấy phép bổ khí thăng để làm chủ. Phương thuốc kinh điển là bài Bổ trung ích khí thang của Lý Đông Viên. Phương và pháp tổng quát là như vậy. Tuy nhiên, kết quả điều trị phần lớn lại phụ thuộc vào kinh nghiệm của thầy thuốc trong việc gia giảm, phối chế xác định liều lượng, hình thức, cách dùng thuốc thích hợp với cơ địa, thể trạng riêng từng người bệnh. Một yếu tố không kém quan trọng ảnh hưởng tới kết quả điều trị là công tác điều dưỡng bệnh, do vai trò tích cực của người bệnh quyết định.
Theo kinh nghiệm của chúng tôi, điều trị sa sinh dục nên chia làm hai giai đoạn: tấn công và duy trì. Điều trị tấn công bằng thuốc thang, trọng dụng hoàng kỳ và thăng ma, mỗi ngày một thang, từ 5-7 ngày nếu sa độ 1 hoặc 15-20 ngày nếu sa độ 2. Sau đó chuyển sang điều trị duy trì bằng thuốc tán (thăng ma vi quân) trong một tháng. Kinh nghiệm của chúng tôi cho bệnh nhân uống thuốc (thang hoặc tán) trước giờ nghỉ ngơi tuyệt đối như nghỉ trưa, ngủ tối. Uống thuốc vào, lên giường nằm ngay, chân kê gác cao hơn đầu. Có thể kết hợp tập vài động tác đơn giản như lần lượt đưa từng chân lên xuống (hít vào đưa chân lên, thở ra hạ chân xuống); hoặc làm động tác thót cơ hậu môn, cơ sinh dục như động tác nín đại - tiểu tiện rồi thả lỏng, lại tập tiếp. Mỗi động tác tập vài chục lần. Kinh nghiệm cho thấy vừa uống thuốc kết hợp tập thể dục như nói trên, vừa tuân thủ nghiêm ngặt chuyên tắc điều dưỡng nghỉ ngơi, hạn chế phòng sự, không bưng vác nặng... thì kết quả điều trị đã nhanh lại có khả năng chống tái phát rất tốt.
2. Sa sinh dục thể thấp nhiệt: sa sinh dục trên cơ địa người nóng, nhiệt, lại do vệ sinh kém, thường biến chứng viêm nhiễm. Triệu chứng biểu hiện là âm đạo sưng đau lở loét, nước vàng ra nhiều, tiểu tiện nóng đỏ, buốt rát, đắng miệng, phiền muộn, lưỡi đỏ, mạch hoạt sác. Phép chữa dùng thanh nhiệt lợi thấp. Chủ phương là Long đởm tả can thang: long đởm thảo, chi tử, hoàng cầm, sinh địa, sài hồ, xa tiền tử, trạch tả, mộc thông, đương quy, cam thảo. Đối với thể bệnh này, nhất thiết phải phối hợp thuốc dùng ngoài, có thể chọn dùng một trong các bài sau:
Bài 1: ô mai 12g, ngũ bội tử 20g, chỉ xác 20g, ngân hoa, hoàng bá, cam thảo đều 12g, sắc nước, thừa lúc còn nóng đem xông, sau đó rửa, ngày làm 3 lần.
Bài 2: khổ sâm 20g, bạch chỉ 12g, sà sàng tử 20g, phèn chua 4g, hoàng bá 12g, sắc xông ngâm mỗi ngày 2-3 lần.
Sau khi hết các triệu chứng viêm nhiễm (sưng, nóng, đỏ, đau, lở loét...), tiếp tục điều trị duy trì bằng bài Bổ trung ích khí tán gia long đởm hoàng bá. Cách dùng tương tự như ở thể khí hư.
Trên đây là những kinh nghiệp điều trị sa sinh dục bằng Đông y, thường chỉ có kết quả ở giai đoạn sa độ 1 và độ 2 (đối với trường hợp sa độ 3 phải nhờ Tây y can thiệp bằng phẫu thuật mới có kết quả). Một điểm đáng lưu ý thêm là để phòng bệnh sa sinh dục cần khuyến cáo chị em phụ nữ phải thực hiện nghiêm chỉnh công tác kế hoạch hoá gia đình bằng cách không đẻ sớm (trước 22 tuổi), không đẻ dày cháu (cách xa 4-5 năm), không đẻ nhiều (chỉ nên đẻ 1-2 con). Nên sanh ở nơi an toàn và được đỡ đẻ đúng kỹ thuật, không để sản phụ rặn lâu quá; tránh các sang chấn như rách âm đạo, tầng sinh môn khi làm các thủ thuật; khi tầng sinh môn hay âm đạo bị rách dù rất nhỏ, không chảy máu cũng phải khâu lại cẩn thận. Ngoài ra, chú ý không để suy dinh dưỡng hoặc táo bón kéo dài và nhất là tránh lao động nặng sớm sau đẻ. Vận động nhân dân thực hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” là một nhiệm vụ quan trọng của người thầy thuốc trên mặt trận chăm sóc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
Nguồn: T/c Đông y, số25/8/2001, tr 17







