Chữa bệnh bằng ong châm
Tác dụng chữa bệnh của nọc ong đã được y học biết đến và áp dụng từ rất lâu. Nhiều thầy thuốc nổi tiếng từ thời La Mã cổ đại đã cho biết nọc ong có khả năng làm giảm đau các khớp xương, các tổn thương trong cơ thể và nhanh chóng làm lành vết thương. Ở Trung Quốc đã từng sử dụng nọc ong để chữa bệnh từ hơn 3.000 năm về trước.
Thế kỷ 18, 19 nhiều thầy thuốc Châu Âu đã công bố những kết quả đáng phấn khởi trong việc dùng nọc ong chữa các bệnh thấp tim, thấp khớp… Năm 1755-1835 bác sỹ người Đức Samuel Hahnemann dùng nọc ong với liều vi lượng để chữa trị các căn bệnh sưng tấy, đau đớn trong cơ thể con người. Ông phát hiện ra rằng, bản thân hợp chất với liều lượng lớn có thể gây bệnh song với liều vi lượng thì lại có thể trị được chính căn bệnh đó. Ông đã đưa ra nguyên tắc chữa bệnh “Lấy độc trị độc”, nghĩa là ong đốt sẽ gây sưng tấy, đau, nóng, sốt, ngứa… thì nó lại chữa các bệnh đau, sưng, ngứa, sốt… và phương pháp này còn được gọi là “Vi lượng đồng căn” hoặc lấy tên “Chữa bệnh bằng ong châm” trong liệu pháp vi lượng đồng căn.
Năm 1847, bác sỹ chuên về liệu pháp vi lượng đồng căn Marsi là người đầu tiên đã chú ý đến tác dụng điều trị mạnh của nọc ong. Ở nước Nga vào năm 1861, tờ báo “Người thầy thuốc” đã đăng bài của Hensk giới thiệu những tính chất chữa bệnh quý của nọc ong cho nhiều bệnh nhân bị nhiều bệnh nan y: chữa thấp khớp, điều trị viêm dây thần kinh và đau dây thần kinh, chữa cholesterol , huyết áp cao, bướu cổ, một số bệnh về mắt, bệnh ngoài da… rất hiệu quả. Đối với chứng bệnh về hệ tiêu hoá, hệ hô hấp, các căn bệnh về xương, cơ và một số bệnh tâm lý học cũng đã được điều trị bằng nọc ong. Theo tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) nên dùng nọc ong chữa cả những bệnh thông thường như: đau bụng, cảm cúm, ho, sốt cao… Gần đây, để chống lại dịch cúm gia cầm, người ta cũng nghĩ đến áp dụng dùng nọc ong để phòng và chữa bệnh.
Để chữa trị các loại bệnh thông thường cho trẻ em như: viêm phế quản, ho, sốt, ỉa chảy, lười ăn, đái dầm… nhiều gia đình tại Pháp, Đức, Ba Lan… vẫn thường ưa chuộng dùng nọc ong. Họ cho rằng đây là một biện pháp tích cực chống lại việc lạm dụng kháng sinh, hoá chất tổng hợp trong chữa bệnh cho trẻ em, vì các loại kháng sinh này không chỉ tiêu diệt vi trùng gây bệnh mà còn tiêu diệt luôn cả những vi khuẩn có lợi trong cơ thể con người. Do đó dùng kháng sinh không những gây ra nhờn thuốc mà còn làm suy yếu hệ miễn dịch của con ngời, khiến cơ thể trở nên dễ nhiễm các loại bệnh khác như dị ứng, thấp khớp, thoái hoá các bộ phận của cơ thể, viêm gan, các bệnh về thần kinh… Một số nhà khoa học tin tưởng rằng nọc ong có thể điều chỉnh được hệ miễn nhiễm và giúp tăng trưởng sự sản sinh các chất hormon trong cơ thể con người. Cho nên phương pháp này không chỉ là phương pháp chữa bệnh đơn thuần mà còn là phương pháp dinh dưỡng phòng bệnh. Cơ thể chúng ta hàng ngày bị đe doạ bởi nhiều loại hợp chất độc hại phát sinh trong môi trường bị ô nhiễm, cả trong thực phẩm, rau quả; các chất độc hại này được lưu tích trong cơ thể, đến lúc nào đó hệ miễn dịch của chúng ta suy yếu, nó sẽ bùng phát thành bệnh, từ những căn bệnh dễ chữa đến những loại bệnh nan y.
Gần đây, nhà sinh lý học người Nga Nicôlai Chixin đã nói chuyện với 200 người già từ 100 tuổi trở lên và qua điều tra và thống kê cho thấy một điều lạ là trong số những người sống lâu này có 134 người làm nghề nuôi ong, 34 người cũng đã từng có thời gian nuôi ong. Cuối cùng ông đưa ra luận điểm: “Người nuôi ong trường thọ”. Ông còn kết hợp cả với các nhà khoa học ở Anh, Mỹ để khảo cứu thì nhận thấy chưa hề có một người nuôi ong nào bị mắc bệnh ung thư. Thậm chí ông còn làm nghiên cứu đối với các bệnh nhân đã xuất hiện các tổ chức ác tính trong người nhưng sau khi động viên người bệnh vào nghề nuôi ong một thời gian, các dấu hiệu bệnh ác ính tiêu tan hết. Có nghiên cứu đã thừa nhận nọc ong có thể giúp chống lại ung thư. Tiêm nọc ong vào khối u ung thư có tác dụng làm cho nó teo lại.
Trong thời gian 12 năm chữa bệnh, tôi đã sưu tầm được nhiều thông tin về nọc ong chữa bệnh. Từ kinh nghiệm dân gian ở nước ta đến kinh nghiệm ở nhiều nước khác (Mỹ, Nga, Đức, Pháp, Bungary, Rumani…) và cả những công trình gần đây đều cho thấy, nọc ong chữa được các bệnh thấp khớp, viêm khớp dạng thấp, huyết áp cao, hen phế quản, suy nhược thần kinh… có kết quả tốt.
Phương pháp chữa bệnh bằng nọc ong được thực hiện trong bệnh viên Unicum ở Mátxcơva để điều trị đặc biệt cho các chứng đau thần kinh hông, đau ở đốt sống thắt lưng, viêm gãn mãn tính, viêm rễ thần kinh, thấp khớp, các chứng bệnh tim mạch, phổi, viêm khớp, bệnh bất lực của người đàn ông…
Bác sỹ Chen đã trở thành người Trung Quốc đầu tiên và suốt đời cống hiến cho sự nghiệp phát triển phương pháp chữa bệnh bằng cách cho ong đốt. Ông đã điều trị khoảng 30 loại bệnh. Đó là các bệnh tê liệt thần kinh, co giật cơ mặt, đau đầu mãn tính, sưng tấy, huyết áp cao và cả bệnh tâm thần, suy nhược thần kinh, thần kinh toạ…
Gần đây một số bệnh viện ở ngoại ô Bắc Kinh hiện đang nổi tiếng nhờ phương pháp chữa bệnh bằng ong châm. Các bác sỹ tại đây nói rằng phương pháp này có thể chữa được bệnh thấp khớp, viêm khớp, đau lưng và còn giúp cải thiện những khó khăn trong điều trị về bệnh gan và ung thư.
Trung tâm y tế tỉnh Shaanxi (Trung Quốc) đang thu hút rất nhiều bệnh nhân mắc bệnh viêm mũi và triệu chứng bệnh cúm, họ cho ong đốt trực tiếp lên sống mũi người bệnh, chất kháng sinh tự nhiên này sẽ tiêu diệtvirus cúm trong niêm mạc mũi.
Một thời gian phương pháp này phổ biến ở Châu Á, nay đã và đang phát triển ở Châu Âu. Năm ngoái, doanh số thu về từ việc chữa trị bằng phương pháp này đã lên đến con số 3 tỷ đồng EURO.
Còn ở Việt Nam , từ 40 năm trước chúng ta đã áp dụng phương pháp chữa bệnh bằng nọc ong và đã có kết quả nhất định. Nay chúng tôi là hội viên của Hội dược liệu Việt Nam đang tiếp tục áp dụng phương pháp này. Ngoài việc điều trị những bệnh kể trên, chúng tôi còn dùng nọc ong châm để cai thuốc lá, cai rượu, cai ma tuý thấy có kết quả rất khả quan. Đặc biệt, chúng tôi chữa các u trong cơ thể, nhận thấy u cũng úât dần mà không cần phải giải phẫu như u mỡ, u sơ…
Sở dĩ nọc ong chữa được nhiều bệnh như trên vì trong đó có chứa axit focmic, axit clohydric, axit Ortophotphoric, 0,4% magiephotphoric, nhiều acetylcholin, canxi, magiê, đồng… cùng nhiều nguyên tố vi lượng chữa bệnh rất tốt. Ngoài ra trong nọc ong còn có 18 axit amin. Nọc ong có tính chất kháng sinh mạnh. Theo nhiều tác giả nọc ong có tác dụng kháng sinh mạnh đối với 215 chủng thuộc 17 loại vi khuẩn khác nhau, nhất là đối với liên cầu khuẩn, tụ cầu, trực khuẩn lỵ… Trong thực tế, châm nọc ong chưa bao giờ bị áp xe, trái lại có nhiều trường hợp áp xe lại được chữa khỏi bằng nọc ong. Cố nhiên, phải biết dùng đúng chỗ, đúng liều lượng đối với từng người bệnh.








