Chủ tịch Hồ Chí Minh tận tâm vì hoà bình - tư tưởng của Đức Phật
Có thực Hồ Chí Minh “hiếu chiến” không. Chúng ta cùng lý giải và nhận thức tấm lòng của Người mong giải quyết xung đột, ngăn ngừa chiến tranh giữa hai nước Việt - Pháp và Việt - Mỹ trong hệ tư tưởng Phật giáo.
Mong muốn ngăn ngừa chiến tranh Việt - Pháp
Ngay sau khi lãnh đạo toàn dân giành chính quyền về tay nhân dân, với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm cảnh báo tình thế khó khăn, thực dân Pháp âm mưu xâm lược lần nữa: “Hỡi đồng bào! Hiện một số quân Pháp đã lọt vào nước ta. Đồng bào hãy sẵn sàng đợi lệnh Chính phủ để chiến đấu” (2).
Hồ Chí Minh tâm niệm lời dạy của Đức Phật “Hãy gấp làm điều thiện, ngăn tâm làm điều ác”, Người nhiều lần cảnh tỉnh thảm hoạ sẽ đến với hai dân tộc Việt - Pháp: “ Nước Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng…” (3), “ Cuộc xâm lược… gieo rắc chết chóc và huỷ diệt trên đất nước chúng tôi…” (4).
Tìm kiếm con đường ngăn ngừa chiến tranh, Hồ Chí Minh đích thân kí vào Hiệp định sơ bộ, nội dung ghi nhận: “ 1/ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Cộng hoà là một quốc gia tự do có Chính phủ của mình… một phần tử trong Liên bang Đông Dương trong khối Liên hiệp Pháp… 2/ Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng thân thiện, tiếp đón quân đội Pháp…phụ khoản ghi: … cứ mỗi năm một phần năm (1/5) các đội quân sẽ về Pháp để quân đội Việt Nam thay thế. Vậy trong 5 năm, quân đội Việt Nam sẽ thay thế toàn số quân đội Pháp này” (5). Nếu nước Pháp thực hiện đúng Hiệp định sơ bộ không xảy ra chiến tranh giữa hai nước.
Năm 1946, cách mạng Việt Nam vào thời kỳ cực kỳ khó khăn, nguy hiểm, các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách lật đổ Nhà nước non trẻ. Mong giải quyết xung đột, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành bốn tháng trời sang Pháp, gặp gỡ lãnh đạo Quốc hội, Chính phủ, các Đảng phái, tổ chức chính trị, xã hội và báo chí bày tỏ nguyện vọng thân thiện hợp tác mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội… Người gợi mở tương lai cho hai dân tộc: “ Mong sao tình hữu nghị giữa nước Pháp và nước Việt Nam … chỉ có lợi cho sự phồn vinh của Liên hiệp Pháp và sự bừng nở lý tưởng dân chủ trên thế giới… Liên hiệp Pháp sẽ có vai trò to lớn trong việc tổ chức xã hội loài người” (6).
Trước khi về nước, Hồ Chí Minh đã ký Tạm ước với Chính phủ Pháp. Đồng thời Người gửi nhiều lá thư đến các nguyên thủ quốc gia, thư gửi Tổng thống Mỹ chân thành mong muốn: “ Chúng tôi yêu cầu Hợp chủng quốc với tư cách là những người bảo vệ và những người bênh vực công lý thế giới, thực hiện một bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi… Mục tiêu của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ… sự hợp tác này trở nên có lợi cho toàn thế giới” (7).
Tận tâm, nỗ lực của Hồ Chí Minh tìm kiếm con đường hoà bình không được Nhà nước Pháp và Mỹ trả lời thoả đáng.
Sau khi thua trận Điện Biên Phủ và phải rút quân khỏi Đông Dương, năm 1966, Tổng thống Pháp Đờ Gôn nhận thấy sai lầm, gửi thư đến Chủ tịch Hồ Chí minh chân thành, hối hận: “Một sự hiểu biết nhau nhiều hơn giữa người Việt Nam và người Pháp khi chiến tranh thế giới kết thúc, có lẽ đã ngăn ngừa được những biến cố cay đắng đã tàn phà nước ngài”.
Năm 1994, (40 năm sau), Tổng thống Pháp F. Matterrand đích thân đến thăm chiến trường Điện Biên Phủ, nơi để lại biết bao vong linh, hài cốt những người con ưu tú của hai dân tộc Việt - Pháp. Tổng thống Pháp nhận định tầm nhìn siêu việt và lòng nhân từ, hoà hiếu của Hồ Chí Minh: “Ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại nhưng không tìm được, dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập. Ông Hồ Chí Minh đã bị đẩy vào cuộc chiến tranh”.
Không phân biệt kẻ bị áp bức và người đi áp bức, không phân biệt giai cấp, tầng lớp để gieo rắc hận thù và chiếm giết lẫn nhau, Hồ Chí Minh hết sức đau đớn cảm thán: “ Than ôi, trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người… cần phải bắt tay nhau gây dựng hạnh phúc chung” (8). Thấm nhuần lời dạy của Đức Phật “chúng sinh là Phật đấy…”, Hồ Chí Minh tận lực, chí tâm “tìm kiếm người đối thoại… đàm phán hướng tới độc lập” cho dân tộc, trên căn bản nguyên lý trong hệ thống tư tưởng Phật giáo ngăn ngừa chiến tranh.
Mong muốn ngăn ngừa chiến tranh Việt Nam - Hoa Kỳ
Năm 1942, tại nhiều hội nghị giữa các nước lớn họp ở Cairô, Têhêran, Yalta … Tổng thống Mỹ F. D. Roosevelt luôn đặt phương án phải chấm dứt chế độ thuộc địa, ở Đông Dương cần thành lập: “chế độ uỷ trị thay thế cho việc để Pháp lập lại chính quyền”. Hiểu được điều đó, Hồ Chí Minh chủ động đi bộ vượt qua hàng trăm cây số đường rừng núi vất vả, để tìm gặp tướng Chennault tại Hành dinh Quân đội Mỹ ở Trung Quốc. Trung uý C. Fenn viết: “ C. Chennault cảm ơn ông Hồ đã cứu sống Trung uý Sao. Ông Hồ ghi nhận cả hai, tuyên bố rằng ông vui lòng khi được giúp đỡ người Mỹ và nhất là tướng C. Chennault mà ông ngưỡng mộ…” (9).
Trong buổi đón phái đoàn Mỹ, ông Hoàng Quốc Việt nhớ lại ngày ấy: “ Bác đón tiếp phái đoàn Mỹ hết sức nồng hậu. Do tài ngoại giao khéo léo của bác những Mỹ dự tiệc đều tuyên bố sẵn lòng ủng hộ Việt Minh” (10).
Được phép Tổng thống F. D. Roosevelt, quân đội Mỹ là nước đầu tiên cử đội công tác “con nai” trực thuộc Cục tình báo Chiến lược do thiếu tá Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống chiến khu Tân Trào. Liền sau đó hàng chục chuyến máy bay Mỹ thả hơn chục tấn vũ khí, đạn, khí tài thông tin liên lạc, thuốc chữa bệnh cho quân đội Việt Minh.
Tháng 4 - 1945, Tổng thống Mỹ F. D. Roosevelt qua đời, người kế nhiệm Tổng thống Truman lên thay đã có chính sách khác hẳn, ông ra lệnh phải giải tán tổ chức OSS và rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Đông Dương. Biết được tình hình hết sức khó khăn, không ủng hộ nền độc lập của nhân dân các nước Đông Dương, Hồ Chí Minh nói với người cộng sự Hoàng Minh Giám: “ Anh này (Tổng thống Mỹ Truman) không chống thực dân như F. D. Roosevelt trước đây đâu” (11). Lịch sử đôi khi có nhiều khúc ngoặt trớ trêu, tệ hại bởi nhận thức nhất định của một vài cá nhân đã làm đau thương, mất mát cho hai dân tộc. Hồ Chí Minh một lần nữa mong ngăn ngừa chiến tranh nhưng không thành.
Tháng 8 - 1945, theo lệnh của Tổng thống Truman, các sĩ quan tình báo Mỹ phải rút khỏi Việt Nam, Hồ Chí Minh gửi thư cho ông Tam, một sĩ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ, tỏ lòng luyến tiếc, nhận định sáng suốt và là tiên tri: “ Tôi cảm thấy áy náy vì những người bạn Mỹ đã rời chúng tôi quá nhanh và do đó mối quan hệ giữa ông và chúng tôi trở nên khó khăn hơn. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên ông. Ông cũng đừng quên chúng tôi nhé! Ngày mai tươi sáng chúng ta sẽ gặp nhau, chúng ta trông chờ ngày đó” (12).
Đúng như lời Hồ Chí minh “mối quan hệ… trở nên khó khăn hơn…” cái “khó khăn” đó đã diễn ra thật đẫm máu, dai dẳng, khốc liệt cho cả hai dân tộc Việt Nam - Hoa Kỳ khi một vài nhà lãnh đạo chưa hiểu hết tấm lòng và ước vọng đơn giản nhất về quyền sống độc lập, tự do và thống nhất tổ quốc cho các dân tộc chậm phát triển.
Mặc dù vậy, Hồ Chí Minh vẫn kiên trì đường lối hoà bình, Người gửi thư đến Tổng thống Mỹ và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bày tỏ lý lẽ xác đáng, nêu cụ thể phương thức “Hợp tác hoàn toàn với Mỹ”: “ Nhân danh Hội văn hoá Việt Nam, tôi xin được bày tỏ nguyện vọng của Hội, được gửi một phái đoàn khoảng mười thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác… tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam…” (13).
Kiên trì đường lối, giải quyết xung đột và ngăn ngừa chiến tranh giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ, (hai năm 1947 - 1948), Chủ tịch Hồ Chí Minh cử phái viên đặc biệt Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch nhiều lần sang Thái Lan. Thời gian này, Thái Lan là cửa ngõ duy nhất thông thương với các nước, Chính phủ Thái Lan cho phép Chính phủ Việt Nam lập cơ quan đại diện tại Băng Cốc. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch sang Thái Lan và gặp một số đại diện chính phủ, cơ quan thương mại Mỹ chuyển thông điệp kêu gọi chính phủ Mỹ công nhận Nhà nước Việt Nam và giải quyết hoà bình cuộc chiến tranh Việt - Pháp. Hơn nữa, mong nước Mỹ giúp đỡ Việt Nam khôi phục kinh tế, trao đổi mọi mặt văn hoá, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp, công nghiệp… tăng cường hợp tác quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam - Hoa Kỳ.
Ngày 7 - 1 - 1967, cuộc chiến tranh Việt Nam - Hoa Kỳ đang ở giai đoạn khốc liệt và đẫm máu, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp phái đoàn hoà bình và nhà báo Mỹ, và đã dự báo: “ Tôi kính trọng nhân dân Mỹ. Nhân dân Mỹ là những người yêu hoà bình và dân chủ. Lính Mỹ hiện nay đang bị đẩy sang đây để đi giết người và để bị giết… các ông hãy tin tôi khi tôi nói rằng tôi sẽ rất sung sướng được đón tiếp Tổng thống Mỹ đến đây một cách của hoà bình… Vì vậy chúng tôi nói với nhân dân chúng tôi rằng họ phải sẵn sàng hoan nghênh nhân dân Mỹ không phải khi họ đến như hiện nay với những người lính mang vũ khí. Nhưng khi họ đến một lần nữa trong tương lai để giúp đỡ xây dựng lại đất nước chúng ta” (14).
Như thấm nhuần lời dạy của Đức Phật “chúng sinh là Phật sẽ thành…” Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thông điệp hoà bình: “Rất sung sướng được đón tiếp Tổng thống Mỹ đến đây”. Trong cuộc đời hy sinh cho nền độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, Người tận tâm, tận lực tìm kiếm con đường giải quyết xung đột và ngăn ngừa chiến tranh trong mối quan hệ hoà bình giữa hai nước Việt - Pháp và Việt - Mỹ.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R. Mc. Namara, người sớm hoạch định cuộc chiến tranh Việt Nam - Hoa Kỳ, thấy cần phải giải thoát tâm trạng và nói lại với các thế hệ mai sau, khi đã có một khoảng thời gian để nhìn lại sự việc đã qua: “ Các chính phủ Kennedy và Johnson tham gia vào các quyết định về Việt Nam… Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai ầm như vậy” (15).
“Sai lầm khủng khiếp” trong hai cuộc chiến tranh Việt - Pháp và Việt - Mỹ không phải là lỗi của Hồ Chí Minh, sự thật lịch sử với thời gian đã được trả lại đúng theo nghĩa của nó.
Hồ Chí Minh trọn cuộc đời luôn tôn trọng, không hề có những hành vi, lời nói xúc phạm niềm tin đối với các tôn giáo, tín ngưỡng và phong tục tập quán của nhân dân. Đặc biệt đối với Đạo Phật, Hồ Chí Minh hết sức trân trọng, thành kính đến hàng chục di tích chùa, đền, đình, miếu thắp hương khởi phát giá trị siêu linh của các bậc Phật, thánh, chúa, thần, anh linh anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá… duy nhất trước Phật đài, Hồ Chí Minh đọc lời thề: “ Trước Phật đài tôn nghiêm, trước quốc dân đồng bào… tôi xin hy sinh đem thân phấn đấu để giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc… hy sinh cả tính mạng tôi cũng không từ” (16). “ Tôi kính cẩn cầu nguyện Đức phật bảo hộ Tổ quốc và đồng bào ta… thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca” (17).
Tài liệu tham khảo
1. Raymond Aubrac, tham khảo Hội thảo Quốc tế“Việt Nam trong thế kỷ 20” .
2. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002, tập 4, tr 11.
3. Sđd, tập 4, tr 473
4. Sđd, tập 4, tr 467
5. Sđd, tập 4, tr 525
6. Sđd, tập 4, tr 285
7. Sđd, tập 4, tr 177
8. Sđd, tập 4, tr 457
9. Báo Quân đội nhân dân thứ bải ngày 13/5/1995.
10. Hoàng Quốc Việt,Con đường theo Bác, Nxb Thanh niên, tr 60.
11. Tạp chí Quan hệ Quốc tế số 5/1990.
12. Hồ Chí Minh, Sđd tập 3, tr 551.
13. Sđd, tập 4, tr 80
14. Lưu Văn Lợi,Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ, Viện Quan hệ Quốc tế, 1990.
15. R. Mc. Namara,Nhìn lại quá khứ… Nxb Chính trị Quốc gia, 1995, tr 12.
16. Sđd, tập 4, tr 148
17. Sđd, tập 4, tr 197
Nguồn: Xưa & Nay, số 308, 5 - 2008, tr 3








