Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 23/04/2014 19:18 (GMT+7)

Chính sách khoa học và công nghệ qua các giai đoạn phát triển

Giai đoạn trước đổi mới (1986)

Ngày 4.3.1959, Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập với nhiệm vụ: “giúp Chính phủ xây dựng và lãnh đạo công tác khoa học về mọi mặt, nhằm phục vụ sự nghiệp kiến thiết xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, góp phần nâng cao năng suất lao động, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, phục vụ sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà và sự nghiệp hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc” (Sắc lệnh số 16-SL Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

Ngay sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 105-TTg ngày 11.3.1959 về việc kịp thời tổ chức và lãnh đạo phong trào cải tiến kỹ thuật, sáng kiến phát minh của quần chúng; các chỉ thị về việc xây dựng kế hoạch khoa học - kỹ thuật cho các năm 1959-1960 và kế hoạch khoa học - kỹ thuật 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).

Từ năm 1960 đến năm 1980, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã soạn thảo trình Chính phủ ban hành các văn bản pháp luật quản lý hoạt động KHCN như: hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến nghiệp vụ công tác (Nghị định số 20-CP ngày 4.5.1965); các điều lệ tạm thời về nghiên cứu, xây dựng, xét duyệt và quản lý các tiêu chuẩn kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp và quy phạm, quy trình kỹ thuật dùng trong công nghiệp (Nghị định 123-CP và Nghị định 124-CP ngày 24.8.1963), điều lệ về kiểm tra chất lượng sản phẩm ở các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh (Nghị  định 26-CP ngày 21.2.1974); quản lý công tác thông tin khoa học; công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên (Chỉ thị số 127-CP ngày 23.5.1974 của HĐCP); các chế độ cấp phát tài chính; tổ chức đánh giá, nghiệm thu các công trình KHCN; tổ chức các cơ quan nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật.

Từ năm 1981, hoạt động KHCN được đẩy mạnh và mở rộng với nhiều hình thức phong phú đa dạng; cơ chế quản lý KHCN cũng từng bước được cải tiến và hoàn thiện kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TƯ ngày 20.4.1981 về chính sách khoa học và kỹ thuật. Một số chính sách khuyến khích hoạt động KHCN đã được thể chế hóa, đơn cử như Quyết định số 175-CP ngày 29.4.1981 về việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, các quy định về chế độ kiêm nhiệm của cán bộ khoa học; chế độ quản lý vật tư, thiết bị KH… Các chính sách này ra đời với mục tiêu áp dụng thành tựu của KHCN vào sản xuất và đời sống; mở rộng liên kết chặt chẽ, gắn bó giữa khoa học, đào tạo với sản xuất; nâng cao quyền tự chủ trong hoạt động khoa học của các cơ quan nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật; đồng thời, khuyến khích cán bộ khoa học hướng về cơ sở, tích cực nghiên cứu để giải quyết những khó khăn về kỹ thuật sản xuất.

Một trong những văn bản quan trọng trong thời kỳ này là Nghị quyết 51/HĐBT ngày 17.5.1983 của Hội đồng Bộ trưởng về công tác khoa học và kỹ thuật năm 1983 và những năm tiếp theo. Nghị quyết với những nội dung quan trọng đã thừa nhận, ngoài nhiệm vụ nghiên cứu, các tổ chức KHCN còn có quyền làm dịch vụ, sản xuất các sản phẩm nghiên cứu. Về tài chính, văn bản này cũng khẳng định, các cơ quan nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật được thành lập các quỹ phát triển khoa học - kỹ thuật, quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng. Nguồn trích lập các quỹ này lấy từ thu nhập do ký hợp đồng kinh tế với các cơ sở sản xuất - kinh doanh trong việc nghiên cứu ứng dụng, triển khai và áp dụng kỹ thuật mới; một phần giá trị của các sản phẩm sản xuất thử, phế liệu, phế phẩm thu hồi. Đồng nghĩa với việc thừa nhận tổ chức KHCN là một đơn vị sản xuất tạo ra sản phẩm hàng hóa đặc biệt, sản phẩm khoa học có thị trường trao đổi mua bán.

Có thể nói, trong thập niên 80, với những chuyển đổi quan trọng của cơ chế quản lý kinh tế và đổi mới KHCN, chính sách KHCN trong giai đoạn này đã có bước phát triển mới, tuy nhiên, mới chủ yếu tập trung vào khoa học - kỹ thuật dưới hình thức văn bản điều hành của Chính phủ và đối tượng áp dụng chính là thành phần kinh tế nhà nước.

Giai đoạn đổi mới (từ 1986 đến nay)

Trong giai đoạn này, đổi mới cơ chế quản lý KHCN được triển khai tích cực, hoạt động KHCN đã chuyển dần sang phục vụ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Công tác xây dựng chính sách pháp luật về KHCN cũng có nhiều bước đổi mới, chất lượng văn bản và hiệu lực pháp lý được nâng cao hơn, từng bước đồng bộ với hệ thống pháp luật kinh tế, đặc biệt những văn bản pháp luật khuyến khích công dân Việt Nam (bao gồm cả những người Việt Nam ở nước ngoài) và các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, chuyển giao công nghệ vào Việt Nam.

Công tác xây dựng chính sách KHCN cũng ngày càng hoàn thiện, tập trung vào nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi những quy định còn hạn chế; soạn thảo văn bản mới để thay thế các văn bản đã lạc hậu. Năm 2000, Luật KHCN được Quốc hội thông qua đã thừa nhận quyền bình đẳng của mọi công dân trong hoạt động KHCN. Nét mới cơ bản này của Luật đã góp phần giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo và là tiền đề thực hiện xã hội hóa hoạt động KHCN. Theo đó, mọi tổ chức KHCN, không phân biệt thành phần kinh tế và cấp ra quyết định thành lập, đều có quyền bình đẳng khi thực hiện nhiệm vụ KHCN thông qua cơ chế đăng ký và tuyển chọn. Điểm mới này đã được cộng đồng các nhà khoa học đánh giá cao và tích cực hưởng ứng, bước đầu tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, phát huy được tiềm năng sáng tạo trong hoạt động KHCN. Lần đầu tiên trong nhiều năm, định hướng nghiên cứu và quy trình xét chọn nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Quản lý nhà nước về KHCN đã có những đổi mới căn bản theo hướng áp dụng nguyên tắc công khai, công bằng, dân chủ, khách quan trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ KHCN.

Nhằm thể chế hóa Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XI về “Phát triển Khoa học và Công nghệ phục vụ CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”, Quốc hội đã ban hành Luật KHCN 2013 thay thế Luật KHCN năm 2000. Với nhiều nội dung mới, Luật KHCN 2013 đã làm rõ hơn vị trí, vai trò của tổ chức KHCN, sắp xếp lại mạng lưới tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và đầu tư phát triển KHCN.

Xác định những vướng mắc trong cơ chế tài chính là rào cản lớn nhất của hoạt động KHCN, Luật đưa ra những quy định mới theo hướng nâng cao hiệu quả phân bổ, quản lý và sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, huy động mạnh mẽ nguồn vốn xã hội và các nguồn vốn nước ngoài đầu tư cho phát triển KHCN. Từ đó làm nổi bật vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong hoạt động KHCN với những ưu đãi về thuế và tín dụng.

Một trong những điểm đột phá của văn bản này là chính sách sử dụng và đãi ngộ cán bộ KHCN, theo đó, cá nhân hoạt động KHCN có thành tích càng cao càng được nhiều ưu đãi, không phụ thuộc vào số năm công tác. Luật cũng nêu rõ trách nhiệm của Bộ GD-ĐT, Bộ KH-CN, các bộ, ngành, địa phương trong việc đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KHCN. Nhằm đẩy mạnh ứng dụng kết quả nghiên cứu KHCN vào sản xuất, kinh doanh; phát triển thị trường KHCN cũng là nội dung quan trọng được ghi nhận trong văn bản này.

Cùng với Luật KHCN 2013, các văn bản luật khác như Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật 2006, Luật Chuyển giao công nghệ 2006, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa 2007, Luật Năng lượng nguyên tử 2008, Luật Công nghệ cao 2008 cùng với các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành đã tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất, đồng bộ góp phần thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về KHCN. Đây chính là cơ sở để KHCN vươn ra thị trường quốc tế, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước; đồng thời khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu KHCN; tiếp thu, làm chủ công nghệ ngoại nhập phục vụ sản xuất và đời sống, để KHCN thực sự là nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.