Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 01/02/2010 23:56 (GMT+7)

Chính sách đồng minh và Phong trào phản đối chiến tranh ở New Zealand

New Zealand với tư cách đồng minh của Mỹ

Có thể thấy, từ rất sớm, vào lúc Pháp tiến hành cuộc chiến tranh tái chiếm Việt Nam (9 - 1945), chính phủ New Zealand đã tỏ rõ thái độ ngả theo quan điểm Mỹ và Anh - tán đồng sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước này đối với Pháp. Giới chính trị New Zealand lúc ấy coi Việt Nam là một trọng điểm, một trận tuyến để chống lại “sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản ở châu Á”.

Từ nhìn nhận đó, New Zealand đã tự mình ghi tên vào danh sách đồng minh của Anh, Mỹ; ủng hộ và thừa nhận chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên và cố nhiên, coi chính phủ do “những người cộng sản Việt Nam” lập nên không bảo đảm tính hợp biến. New Zealand đã đóng góp vào hoạt động quân sự của Pháp tại Việt Nam, từng gửi 2 tàu chở vũ khí, đạn dược sang Việt Nam để giúp chính phủ Bảo Đại.

Sau Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, Mỹ ráo riết xúc tiến kế hoạch lập khối quân sự SEATO và đưa Ngô Đình Diệm về miền Nam Việt Nam, dựng lên ở đây một chính quyền, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự để ngăn chặn “sự bành trướng” của chủ nghĩa Cộng sản. Nằm trong vòng ảnh hưởng của Mỹ, New Zealand trở thành một trong những thành viên sáng lập của khối SEATO liên minh quân sự do Mỹ đứng đầu và được coi là một công cụ quan trọng để bảo vệ an ninh khu vực Đông Nam Á. Đồng thời, họ còn tham gia vào khối ANZUS (Australia, New Zealand, Mỹ, thành lập năm 1951) và sau này gọi là khối ANZUK (Anh, Australia, New Zealand, Malaysia, và Singapore, thành lập năm 1971) để “bảo vệ an ninh và sự ổn định của khu vực”. Dựa vào các hiệp ước trên, New Zealand đã tham gia tích cực vào hoạt động bảo vệ an ninh khu vực, thực hiện chiến lược phòng thủ phía trước ở Đông Nam Á.

Khi Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, các quan chức New Zealand cho rằng lực lượng Việt Cộng đang đe doạ nghiêm trọng đến thể chế chính trị của Nam Việt Nam (chính quyền Sài Gòn). Tuy nhiên, một bộ phận giới quan chức ở Wellington (thủ đô của New Zealand) cũng cho rằng đây chỉ là cuộc xung đột khu vực giữa một bên là Bắc Việt Nam được Trung Quốc, Liên Xô hậu thuẫn và một bên là chính quyền Sài Gòn được Mỹ tài trợ cả về quân sự lẫn chính trị, kinh tế. Việc quyết định tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây tranh cãi không ít trong chính giới New Zealand.

Cũng vào thời điểm này, New Zealand bắt đầu phải chịu những áp lực của Mỹ trong việc đóng góp vào quá trình “ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản” ở miền Nam Việt nam. Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định, New Zealand đã có những hành động phản ứng lại áp lực của Mỹ. Một phần vì họ nghi ngờ tính hiệu quả của việc can thiệp từ bên ngoài vào cuộc chiến ở Việt Nam. Mặt khác, họ cũng lo sợ khi cuộc chiến tranh mở rộng, khả năng Trung Quốc có thể can thiệp và điều đó sẽ bất lợi đối với an ninh của New Zealand.

Bước ngoặt trong vấn đề can thiệp vào cuộc chiến tranh Việt Nam chính là thời điểm Thủ tướng K.J Holyoake lên cầm quyền ở New Zealand. New Zealand cũng như Australia đều có chung một nhận thức rằng lợi ích sống còn của họ đang bị đe doạ. Sự sa sút của cường quốc Anh làm cho nền anh ninh của New Zealand ngày càng phải lệ thuộc và phải phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ để ngăn chặn cái gọi là “cơn lũ của sự khủng bố và xâm lăng” của chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á, như lời Thủ tướng New Zealand tuyên bố. Theo ông ta, vấn đề cơ bản của cuộc chiến tranh ở Nam Việt Nam thực chất chính là vấn đề ý thức hệ: “Ý chí của ai sẽ thắng thế ở Nam Việt Nam?” (1).

Đối với New Zealand, cuộc chiến tranh Việt Nam không mang lại nhiều quyền lợi, nhưng với tư cách là một đồng minh của Mỹ, New Zealand không thể nằm ngoài hệ tư tưởng chống Cộng và bảo vệ nền an ninh khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy, việc đưa quân sang Nam Việt Nam đã đặt ra hàng loạt vấn đề, và những vấn đề này đã làm xáo trộn toàn bộ hệ thống chính trị, xã hội New Zealand vào thời điểm đó.

Tuy nhiên, New Zealand chỉ tham gia vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam với một mức độ tối thiểu: gửi đến một đội phẫu thuật dân sự. Trong suốt thời gian hoạt động ở Việt Nam, đội phẫu thuật New Zealand đã thực hiện có hiệu quả tại Quy Nhơn (Bình Định). Khi cuộc chiến ở Việt Nam ngày càng leo thang, dưới những áp lực liên tục của Mỹ, năm 1963, chính phủ New Zealand đã đồng ý chấp thuận đưa một toán dân sự vụ sang Việt Nam. Nhưng vào thời điểm đó, tình hình chính rị ở Sài Gòn ngày càng phức tạp, đặc biệt từ sau vụ đảo chính Ngô Đình Diệm. Vì vậy, chính phủ New Zealand đã hoãn không đưa lực lượng này sang. Trong những năm tiếp theo, chính phủ Holyoake đã tìm mọi cách giảm thiểu sự can thiệp của New Zealand vào cuộc chiến tranh Việt Nam.

Phong trào phản đối chiến tranh

Sự góp mặt của quân đội New Zealand trong cuộc chiến tranh Việt Nam đã kéo theo nhiều hệ quả, tác động đáng kể đến các mặt đời sống xã hội, nhất là trên các lĩnh vực chính trị, an ninh quốc phòng và đối ngoại của đất nước này. Chiến tranh Việt Nam thực sự đã tác động đến việc hoạch định đường lối, chính sách đến vấn đề an ninh quốc gia, thậm chí cả những cuộc tranh luận quyết liệt nổ ra trong quốc hội New Zealand.

Một trong các yếu tố tác động mạnh mẽ tới những quyết sách của chính phủ New Zealand là phong trào phản đối chiến tranh bùng nổ vào giữa thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Không giống như ở Mỹ và Australia – nơi phong trào phản đối chiến tranh chỉ thực sự bắt đầu khi các chính phủ này thực thi chương trình tuyển mộ binh lính đưa sang Việt Nam, tại New Zealand, quá trình đó diễn ra ngay từ lúc chính phủ đề xuất chủ trương đưa quân đội sang tham chiến ở Nam Việt Nam. Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ở New Zealand tập trung phê phán chủ trương của chính phủ ngả theo quan điểm của Mỹ và chính sách bành trướng của Mỹ sang khu vực châu Á Thái Bình Dương. Phong trào đưa yêu sách đòi chính phủ phải xem xét lại học thuyết Đôminô của Mỹ - một học thuyết mà theo họ, người Mỹ đã tô vẽ quá mức về sự đe doạ của những người Cộng sản miền Bắc Việt Nam và những người Cộng sản Trung Quốc (họ gọi là làn sóng đỏ). Ở mức độ nhỏ hơn, phong trào phản chiến ở New Zealand đồng thời lên án tính phi đạo đức của cuộc chiến tranh Việt Nam - một cuộc chiến mà Mỹ đã đưa vào sử dụng các loại vũ khí có sức tàn phá lớn, gây thương vong cho hàng vạn người Việt Nam, trong đó phần lớn là thường dân. Những người phản đối chiến tranh bày tỏ quan điểm rằng việc Mỹ và đồng minh đưa quân sang tham chiến tại Nam Việt Nam thực chất là can thiệp vào công vịêc nội bộ của Việt Nam.

Tính chất và quy mô phong trào phản đối chiến tranh ở New Zealand thay đổi phụ thuộc vào số lượng quân Mỹ và quân các nước đồng minh đưa vào chiến trường Việt Nam, cũng như mức độ và quy mô của cuộc chiến. Ban đầu, nhân dân và các lực lượng xã hội tiến bộ chỉ phản đối học thuyết Đôminô, sau chuyển dần sang phản đối việc Mỹ dựng lên chính quyền Sài Gòn tại Nam Việt Nam. Những người tham gia phản đối chiến tranh đều khẳng định rằng tất cả người dân Việt Nam đều mong muốn thống nhất Việt Nam và việc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa là cách lựa chọn của họ. Về sau, khi chiến tranh ở giai đoạn leo thang, nhân dân và các lực lượng tiến bộ ở New Zealand đã phản đối các chính sách của Mỹ ở Việt Nam, đồng thời ủng hộ chủ trương của Mặt trận dân tộc giải phóng niềm Nam Việt Nam. Họ đưa ra những quan điểm có tính dự báo rằng chính sách của Mỹ ở Việt Nam sẽ không mang lại hoà bình, an ninh cho Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Trong gần một thập kỷ đưa quân sang tham chiến (từ 1963 đến 1972), bất chấp làn sóng phản đối chiến tranh ngày càng lan rộng trong các tầng lớp nhân dân, Chính phủ New Zealand vẫn khẳng định rằng việc đưa quân sang tham chiến ở Việt Nam là nằm trong khuôn khổ của hiệp ước liên minh mà Chính phủ New Zealand đã ký với các nước trong khối SEATO, đó còn là nghĩa vụ của một đồng minh đối với đồng minh để chống lại “sự xâm lăng của chủ nghĩa Cộng sản” (2).

Rất khó có thể đánh giá hết mức độ tác động của phong trào phản đối chiến tranh ở New Zealand đối với việc hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và những mặt khác trong đời sống xã hội New Zealand. Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng những tác động đó, ở một chừng mực nhất định, đã làm thay đổi đường lối, cương lĩnh của các đảng phái ở New Zealand. Nhìn bề ngoài, phong trào phản chiến tưởng như không có tác động mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách của chính phủ New Zealand đối với cuộc chiến tranh Việt Nam và cũng không tạo nên sự chia rẽ sâu sắc, thù địch giữa các đảng phái, các nhóm xã hội ở New Zealand. Song trên thực tế, phong trào phản đối chiến tranh đã giành được sự ủng hộ của đông đảo người dân, đặc biệt là vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt nam. Sự ủng hộ được minh chứng qua hàng loạt sự kiện vào đầu những năm 70 của thế kỷ XX, khi hàng nghìn người, bao gồm cả học sinh, sinh viên tại các thành phố lớn đồng loạt xuống đường biểu tình chống chiến tranh Việt Nam. Cuộc đấu tranh rầm rộ này ít nhiều cũng làm phân hoá quan điểm của giới lãnh đạo New Zealand về chính sách đồng minh của Chính phủ.

Phong trào phản đối chiến tranh ở New Zealand (và nhiều nước khác) đã “tạo ra một thế hệ mà chúng ta thường gọi là thế hệ Việt Nam” (3). Rõ ràng, phong trào đã góp phần làm cho hai đảng chính trị lớn ở New Zealand là Đảng Lao động và Đảng Quốc dân (thay nhau chiếm đa số ghế trong quốc hội) phải nhìn nhận lại quan điểm, chính sách của mình. Phong trào đó cũng đã góp phần tạo nên chiến thắng hay thất bại trong các cuộc tranh cử thời kỳ này. Chẳng hạn, trước khi New Zealand quyết định đưa quan sang tham chiến tại Nam Việt Nam, Đảng Lao động đã cảnh báo, thậm chí phản đối chính sách của chính quyền đương nhiệm New Zealand đối với chiến tranh Việt Nam. Một số quan chức cao cấp trong Đảng Lao động cho rằng để thực hiện trách nhiệm của một đồng minh, New Zealand chỉ cần dừng lại ở mức độ viện trợ kinh tế hoặc viện trợ nhân đạo cho cuộc chiến tranh Việt Nam thay vì phải có những hoạt động quân sự để giúp những người Việt Nam giải quyết vấn đề của họ.

Nhìn chung, quan điểm của hai đảng Lao động và Quốc dân xung quanh vấn đề tham gia chiến tranh Việt Nam vẫn thường xuyên thay đổi trước và trong các kỳ bầu cử. Sự thay đổi quan điểm của các đảng phái được lý giải là cho phù hợp với thời - thế và mục đích cuối cùng là để các đảng giành thắng lợi trong các cuộc bầu cử. Một trong những thay đổi chính trị lớn nhất trên chính trường New Zealand là sau năm 1973, khi lực lượng quân đội New Zealand đã rút khỏi Việt Nam. Lúc đó, cả hai đảng Lao động và Quốc dân hầu như có chung một quan điểm về chính sách của New Zealand đối với chiến tranh Việt Nam. Những bất đồng giữa hai đảng đã được thoả hiệp. Cả hai đảng đều chấp nhận nghịch lý của việc liên minh với Mỹ. Bên cạnh đó, họ cũng nhận ra rằng New Zealand phải có cách nhìn mới về chính sách đối ngoại. Chính sách đó phải đảm bảo cho New Zealand ít chịu áp lực từ các nước đồng minh, đặc biệt là Mỹ, để họ có một đường lối độc lập hơn trong những vấn đề quốc tế, đồng thời cũng phải tính đến yếu tố đạo đức, văn hoá và đặc thù của người dân New Zealand - một đất nước nhỏ, đa sắc tộc ở Nam Thái Bình Dương.

Chú thích:

1. Larsen S.R và Collins J.L., Allied Participation in Vietnam(Hoạt động đồng minh tại Việt Nam), Department of Army, Washington D.C. 1975, tr 104.

2. http://www.diggerhistory, info/inmages/NZ/withour boys, jpg, New Zealand roll honour for the Vietnam war.

3. nt.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.