Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 06/05/2014 20:48 (GMT+7)

Chiến thắng Điện Biên Phủ từ điểm nhìn “phía bên kia”

  Đây là điều chính người của “phía bên kia” cũng phải chấp nhận. Trên tờ Le Figaro, số ra ngày 7/5/1974, Jean Pouget - một nhà báo Pháp, người từng là sỹ quan tùy tùng thân cận của Đại tướng Navarre - Tổng chỉ huy lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương thời kỳ 1953 - 1954, viết: “Điện Biên Phủ đánh dấu sự kết thúc thời đại chủ nghĩa thực dân và dấy lên thời đại độc lập của thế giới thứ ba. Ngày nay, ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, không có một cuộc nổi dậy hoặc một cuộc khởi nghĩa nào là không chịu tác động bởi chiến thắng của tướng Giáp. Nếu ngày 14 tháng 7 (phá ngục Bastilles) đã trở thành ngày Quốc khánh Pháp thì ngày 7 tháng 5 cũng trở thành ngày phi thực dân hóa trên toàn thế giới”.

Điều đáng lưu ý là sau chiến thắng Điện Biên Phủ 6 năm, nếu tính đến ngày Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời, năm 1960, dân tộc Việt Nam lại phải bước vào một cuộc chiến mới, càng dữ dội, càng khốc liệt, và kéo dài 15 năm, cho đến 1975. Trong bối cảnh thời cuộc mới sau 1954, âm vang của Điện Biên Phủ tuy vẫn còn được lưu giữ sau tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng (1961) của Hữu Mai, và một loạt hồi ký của các tướng lĩnh quân đội trong 2 tập Một vài hồi ức về Điện Biên Phủ, và của những binh nhất, binh nhì, trung úy, thiếu úy trong Đánh lấn, Hàng rào cuối cùng, Lớn lên với Điện Biên…, nhưng đất nước lại đứng trước các thử thách mới. Nếu Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được thực hiện, nếu hai miền đất nước được thống nhất trong hòa bình, thì chắc chắn sự kiện Điện Biên Phủ sẽ còn được trở lại nhiều lần với rất nhiều lưu luyến và tự hào trong đời sống tinh thần của dân tộc ta; và văn học nghệ thuật chắc sẽ có những tác phẩm xứng đáng để lưu lại cho tương lai một tượng đài kỳ vĩ.

Thế nhưng sau Điện Biên Phủ, cả dân tộc ta lại buộc phải lên đường, để đến với cái đích cao nhất: giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước vào mùa Xuân 1975. Sự kiện mới này của lịch sử lại bao choán đời sống dân tộc, cùng với những vấn đề mới đặt ra cho sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước trong 25 năm kết thúc thế kỷ XX. Phải chờ đến kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ vào năm 2004, và 60 năm vào năm 2014, mới có thể xem là cơ hội cho toàn dân tộc Việt thực hiện một hồi nhớ vĩ đại về những hy sinh lớn lao và chiến công vang dội ngang tầm với những Bạch Đằng, Chí Linh, Đống Đa trong lịch sử.

Đã có nhiều vạn trang tư liệu, hàng trăm cuốn sách về Điện Biên Phủ, thuộc nhiều loại, của những người có tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp chiến dịch Điện Biên Phủ trong các giới chính trị, quân sự, báo chí, văn học, nghệ thuật ở trong nước và nước ngoài; trong đó có những tác phẩm rất dầy dặn, để soi sáng sự kiện từ nhiều phía, và tiếp cận sự kiện từ nhiều góc độ. Riêng về văn học, chúng ta đã được đọc ở thế hệ những người đang ở tuổi thanh niên sung sức khi chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra như Hữu Mai, Hồ Phương, Dũng Hà, Lê Kim, Vũ Tú Nam, Nam Hà, Xuân Thiều, Văn Phan… - những nhà văn mặc áo lính.

Và các thế hệ đến sau cũng có không ít những cây bút tài năng viết tiếp về Điện Biên Phủ, về những gì chung quanh, làm nên đường viền cho Điện Biên Phủ, hoặc sau Điện Biên Phủ. Bởi trong cái thế giới ký ức và kỷ niệm về chiến tranh, gồm cả chống Pháp và chống Mỹ, trong tiếp nối và gối liền nhau, suốt 30 năm, cả hai, khó nói thử thách nào là lớn hơn; riêng điều có thể chắc chắn là một “ Điện Biên chấn động địa cầu” đó là một điểm tựa lớn nhất để dân tộc có thể tiếp tục, nói như Tố Hữu: “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mà đi tới toàn cảnh “Nước non ngàn dặm”.

Mikhain Sôlôkhốp trong Thế chiến II viết Họ chiến đấu vì Tổ quốc và Khoa học căm thù trong tư cách một phóng viên chiến trường; phải 12 năm sau khi chiến tranh kết thúc mới có tiếp Số phận một con người, một truyện vừa với sức chứa rất ghê gớm để có thể thu lại rất nhỏ bao là đau đớn, mất mát, thống khổ, cùng là sức chịu đựng và vượt lên, trong tư cách một Con Người Viết Hoa, ở một người lính Nga bình thường… Lép Tônxtôi, 14 năm sau kết thúc chiến tranh Nga - Pháp mới ra đời; thế mà trong khoảng lùi hơn 50 năm đối với sự kiện, ông đã có thể viết cả một bộ sử thi lớn: Chiến tranh và hòa bình nhiều nghìn trang về một cuộc chiến, như một thử thách cao nhất lòng yêu Tổ quốc Nga và sức mạnh của Nhân dân Nga. Như vậy là không chỉ những người sống trong chiến tranh như Sôlôkhốp mà cả những người sinh ra sau chiến tranh như Lép Tônxtôi ai cũng có thể viết về Tổ quốc và Nhân dân trong những thời điểm trọng đại của lịch sử.

Hàng vạn trang tư liệu rồi sẽ còn được bổ sung và hàng trăm cuốn sách còn sẽ ra đời - tôi tin thế, và đó là một khối chứng tích lớn không một chiến thắng nào trong hàng nghìn năm lịch sử dân tộc có thể so sánh được. Và, cũng không thể so sánh được: Sự soi sáng tầm vóc của chiến thắng từ nhiều phía, với nhiều cự ly của thời gian và không gian, kể cả những không gian xa nhất trên thế giới này. Và đó là lý do để hôm nay tôi có dịp trở lại ba bộ sách của ba tác giả là người của “phía bên kia” ; ba bộ sách được viết khá lâu, nhưng chỉ mới được dịch và giới thiệu với bạn đọc tiếng Việt cách đây chẵn 10 năm. Đó là Điện Biên Phủ, 170 ngày đêm bị vây hãm của Erwan Bergot; Tướng Navarre với trận Điện Biên Phủ của Jean Pouget; và Điện Biên Phủ, một góc địa ngục của Bernard B.Fall (*)

Cả ba, theo tôi đều thú vị. Bởi mỗi tác giả có một chỗ đứng riêng, một cách nhìn riêng. Cả ba đều từng là người trong cuộc, từng tham gia cuộc chiến; trong đó E. Bergot và J. Pouget là người của “phía bên kia”; còn B. Fall là nhà báo, nhà sử học, người đã chết ở chiến trường Việt Nam vào tháng 3/1967, trong ước nguyện nói lên sự thật ở Việt Nam, và “cảnh báo phương Tây những thách thức (…) và hiểm họa họ sẽ gặp trong cuộc đọ sức ở Việt Nam”.

Với Erwan Bergot, đó là Điện Biên Phủ 170 ngày đêm bị vây hãm, tính từ lúc những đơn vị lính dù đầu tiên của đội quân viễn chinh nhảy xuống cánh đồng Mường Thanh. Tác giả lúc này là trung úy trong đội quân của de Castries có mặt suốt 170 ngày đêm ở Điện Biên Phủ, tính cho đến khi bị bắt làm tù binh. Sau khi được phóng thích, E. Bergot đã bỏ nhiều công sức sưu tập tài liệu, gặp các nhân chứng để viết Điện Biên Phủ, 170 ngày đêm bị vây hãm, vào năm 1979, trong khoảng lùi 25 năm, và nhận lại gương mặt Điện Biên Phủ gần như trong một toàn cảnh, qua một cấu trúc gồm 45 mục, bắt đầu từ Lịch sử chiến sự (ghi việc từng ngày, từ 12/11/1953 đến 7/5/1954), Cuộc hành quân Castor (20/11/1953)… cho đến Buổi sáng cuối cùng (7/5/1954), và Kết thúc (8/5/1954).

Viết ở tư cách một trung úy ở chiến trường, cuốn sách cung cấp cho ta những sự thật từ chiến hào, sự thật từ dưới lên.

Cuốn sách của Jean Pouget, trong nguyên bản tiếng Pháp: Chúng tôi đã ở Điện Biên Phủ (Nous étions à Dien Bien Phu), được đổi thành: Tướng Navarre với trận Điện Biên Phủ. Đổi như vậy cũng là phù hợp - để thể hiện sự thật từ Tổng hành dinh, từ Đại bản doanh. Một sự thật từ trên xuống. Bởi tác giả là sỹ quan tùy tùng, thư kí riêng của Navarre.

Từ vị trí này J.Pouget đã có thể viết, như lời bình của một tờ báo, không chỉ “những gì tướng Navarre tuyên bố công khai mà còn tiết lộ những điều tướng Navarre viết trong báo cáo mật và cả những lời bộc lộ riêng tư, thầm kín…”. Kết cấu 13 chương của cuốn sách bắt đầu từ chương: Buổi vỡ lòng, với công điện: “Pouget được cử làm sĩ quan tùy tùng của Tổng chỉ huy Đông Dương” khi tác giả đang ở Tây Đức, ngày 11/5/1953, đến Chương cuối cùng viết về những ngày đầu tháng 5/1954. Cuốn sách cho thấy ông đã cùng Navarre trải nghiệm tất cả đắng cay của thất bại; và chủ đề trung tâm của sách, dẫu muốn hoặc không, đó là “số phận bất hạnh” và “sự nghiệp hẩm hiu” của một vị Đại tướng, Tổng chỉ huy lực lượng Pháp ở Đông Dương trong chẵn 1 năm, kể từ khi nhận chức vào đầu tháng 5/1953, đến ngày cuốn cờ về nước, tháng 5/1954.

Bản thân Navarre cũng đã viết 3 cuốn hồi ký về Điện Biên Phủ. Với tư cách một Tổng chỉ huy bại trận ông khó tránh khỏi sự bào chữa và biện hộ cho bản thân; ngay cả ở cuốn cuối cùng: Thời điểm của những sự thật, xuất bản năm 1979, viết sau khi về hưu, ông vẫn “chưa nói hết và chưa nói đúng sự thật”.

Còn về người sĩ quan tùy tùng, thư ký riêng của Navarre lúc ấy, là Jean Pouget thì sao? Trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản Presses de la Cité cho lần in đầu tiên Chúng tôi đã ở Điện Biên Phủ có đoạn viết: “Thiếu tá Jean Pouget là người từng trải qua những phút nghiêm trọng nhất của cuộc chiến tranh Đông Dương, từ cơ quan Bộ Tổng tư lệnh đến tận mũi nhọn của trận chiến đã trình bày lại một cách đầy đủ nhất, sâu sắc nhất vấn đề mà cho tới nay chưa có một cuốn sách nào thể hiện rõ được như vậy”.

Tôi nghĩ đó là cơ sở cho ta có thể tin cậy ở những gì được J.Pouget viết ra; trong đó có một phần viết thú vị đặt ở cuối sách là phần Nhật ký chiến sự ghi khá tỉ mỉ những việc xảy ra hàng ngày, từ thứ Bảy 13/3/1954 đến thứ Bảy 9/5/1954, tất cả là 58 ngày.

Cuối cùng là Điện Biên Phủ, một góc địa ngục của Bernard B.Fall. B.Fall là nhà báo, nhà sử học người Áo, là tiến sĩ giảng dạy môn khoa học chính trị của đại học Howard ở Washington; sinh năm 1926; gia đình là nạn nhân của Đức Quốc xã; nhiều năm sống ở Pháp, rồi định cư ở Mỹ; từ 1954 đến 1967 có 5 cuốn sách viết về Việt Nam. Và Cuộc bao vây Điện Biên Phủ, một góc địa ngục (tên đầy đủ trong tiếng Anh: The Siege of Dien Bien Phu - Hell in a Very Small Place), ấn hành năm 1967 là cuốn sách cuối cùng của ông.

Ông đã dành 3 năm để viết cuốn sách với lời đề tặng vợ: “Tặng Dorothy, người đã sống 3 năm dài, cùng những bóng ma Điện Biên Phủ”. Có nghĩa là, dẫu với khoảng lùi 13 năm, tính từ 1954, tất cả những gì từng diễn ra ở Điện Biên Phủ vẫn ám ảnh ông, vẫn sống động trong ông. Nói như Roger Levi - Tổng thư ký các Ủy ban nghiên cứu những vấn đề Thái Bình Dương khi đọc sách này: “Những bóng ma ấy đã được Bernard gợi lên trong sự trần trụi của chúng, dưới những hầm hào ngập nước, dưới những công sự bị đổ sập, trong tiếng rít của đạn bay, trong tiếng bom đạn nổ ầm ầm, trong mùi hôi thối. Ông nhắc đến những cử chỉ cuối cùng của họ, và những lời trăng trối của họ”.

Cuốn sách được xuất bản ở Mỹ trong thời gian cuộc chiến ở Việt Nam diễn ra khốc liệt nhất, và điều đó không phải là không có dụng ý. Nhà sử học Pháp Philippe Devillers, người từng theo dõi cuộc chiến tranh Việt Pháp từ 1946, đã viết về B.Fall như sau: “Ngay từ những năm 1964-1965 Fall đã chứng kiến những phương tiện chiến tranh của Mỹ được huy động và cơn mưa hiểm họa sẽ trút xuống Việt Nam mà anh đã biết và yêu, một đất nước người ta không thể không yêu khi đã biết, và anh có thể thấy sự tàn phá kinh tởm cuộc sống này liên quan đến một quyết định của những con người đang sống bên dòng sông Potomac”… Như vậy, nói đúng ra, đây không phải cuốn sách của những người ở “phía bên kia” như hai cuốn đã kể trên. Mà là của một nhà báo, một nhà khoa học rất có lương tâm và trách nhiệm. Là người muốn trung thành với sự thật khách quan.

Người, với nhậy cảm về chính trị và thời cuộc đã muốn chứng minh: không có bạo lực nào, sức mạnh quân sự nào có thể khuất phục được ý chí của một dân tộc kiên cường khao khát tự do. Được in vào năm 1967, khi Mỹ đang leo thang trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam, đối tượng mà Fall muốn cảnh tỉnh chính là kẻ đang thế chân Pháp để trở lại Việt Nam. Và sau đây là lời của nhà văn Hữu Mai, trong bài giới thiệu ở đầu bản dịch có tên Những điều chưa biết về Bernard Fall: “Những người viết hoặc nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đều đọc Bernard Fall. Không một nhà sử học, nhà báo nước ngoài nào đem lại cho chúng tôi những tư liệu trung thực, cụ thể, phong phú về chiến tranh Việt Nam như Bernard Fall”… “Theo Fall, vì người Mỹ quá tự tin vào sự vượt trội vào sức mạnh nên không thể tính đếm tới thất bại của Pháp ở Việt Nam. Họ cho rằng có thể dùng sức mạnh quân sự để đánh bại Việt Nam. Fall đặt cho mình sứ mệnh phải đập tan ảo tưởng của Mỹ và giúp cho họ hiểu rằng sức mạnh vật chất không thể làm suy yếu ý chí giành tự do của đối phương”… “Tôi coi đây là một công trình trung thực, đầy đủ nhất của phương Tây viết về Điện Biên Phủ”.

Tôi tin đánh giá trên của nhà văn Hữu Mai, tác giả Cao điểm cuối cùng (1961) - cuốn tiểu thuyết được viết sớm nhất về sự kiện Điện Biên Phủ, một trong những người có công lớn trong việc khôi phục lại diện mạo Điện Biên Phủ trong lịch sử và lịch sử văn học Việt Nam. Và tôi tin Điện Biên Phủ, đúng như tên sách của Fall, là “một góc địa ngục” cho bất cứ ai muốn biến Điện Biên Phủ nói riêng và Việt Nam nói chung thành vùng đất để bảo hộ, hoặc thuộc địa, dẫu là mới hoặc cũ, dưới bất cứ hình thức nào.

***

Vào những ngày này, với độ lùi thời gian 60 năm, với cả một kho tư liệu đang ngày càng thêm dồi dào, với nhiều chiều của sự tiếp cận, và với bao nhân chứng sống vẫn còn, một hình ảnh về Điện Biên Phủ càng được mở rộng và khơi sâu trong sự sống tiềm ẩn và bất tận của nó. Và để thấy cái ao ước một bộ sử thi như Chiến tranh và hòa bình cho Điện Biên Phủ trong văn học Việt Nam là một ao ước chính đáng. Bởi có dân tộc nào trên thế giới trong thế kỷ XX có được sự thấu hiểu và trải nghiệm về cái giá của chiến tranh và hòa bình như dân tộc chúng ta?


Tây Hồ tháng Ba - 2014

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao tặng kỷ vật "Hồ sơ chứng tích chiến tranh" 2026 tại Hoa Kỳ
Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, chiều 21/9 (theo giờ địa phương), tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp những người bạn Hoa Kỳ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến New York tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Liên hợp quốc đang cùng nhau hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ.
Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững Việt Nam - Hoa Kỳ
Chuyến công tác và hoạt động song phương tại Hoa Kỳ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ góp phần triển khai các nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện phát triển ổn định, thực chất, hiệu quả và bền vững.
Lào Cai: Nâng cao kiến thức, năng lực triển khai truy xuất nguồn gốc cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất
Trong khuôn khổ chương trình do Sở KH&CN tỉnh Lào Cai tổ chức, với sự phối hợp của Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã và các đơn vị liên quan, trong hai ngày 16-17/9 tại phường Yên Bái và phường Lào Cai, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất, kinh doanh đã cùng trao đổi những vấn đề cụ thể xoay quanh sản phẩm OCOP, MSMV, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu và chuyển đổi số.
Hải Phòng: Giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh
Sáng ngày 18/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp cùng Trường Đại học Hải Phòng, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Hưng Yên, Viện Kỹ thuật Xây dựng, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia tổ chức Hội thảo khoa học: “Chuyển đổi số và công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh”.