Cây thuốc mang tên Chuột
Cây dưa chuột
Còn có tên Dưa leo, Hoàng qua. Tên khoa học Cucumis sativus,họ Bầu bí.
Là loại dây ăn quả rất thông dụng. Ngày nay, cây có quả quanh năm không theo mùa.
Quả già nấu lấy nước uống tác dụng lợi niệu, hạ sốt, trị phù thũng.
Quả thái mỏng đắp lên mặt làm cho da mềm mại, bóng sáng.
Có lời đồn: Ăn dưa chuột một lúc 3 – 4 trái thì đái nhiều, vãi đái, liệt dương. Điều này không đúng vì đường niệu và sinh dục không liên quan.
Dưa chuột dại
Tên khoa học là Zehneria indica,họ Bầu bí.
Là loại dây leo, mọc hoang dại. Lá hình tim nhám. Quả hình xoan dài 10 - 12mm. Vị ngọt, đắng mát.
Nấu dây lá uống trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
Lá giã đắp trị viên lở da.
Dây tai chuột
![]() |
| Tai chuột |
Là loai cây dây leo trên các cành cây cổ thụ rồi buông thõng xuống. Lá mọng nước, màu lục nhạt có dạng tai chuột, dạng hạt bí. (Đã có giới thiệu trong TSK số 282).
Cây Dó chuột
![]() |
| Dó chuột |
Là loại cây nhỏ, cao độ 1m, mọc hoang hoặc trồng làm cây cảnh vì là cây thấp, nhiều cành, cành màu hồng, nhiều hoa, nhiều quả, chịu hạn tốt, ít phải chăm sóc.
Cả cây đều có độc, thường dùng lá tươi giã nát đắp trị ung nhọt, áp xe.
Lá tươi giã nát, trộn cơm làm bả diệt chuột. Có dùng cành lá nấu 4 - 5 giờ liền, mở nắp để chất độc bay bớt, dùng uống với tác dụng gây tiêu lỏng rút bớt nước cổ trướng. Tác dụng này tương tự vị Camtoại, nhưng ít được dùng vì có độ độc cao. Người xưa đã có kinh nghiệm và gọi Cam thảo là phản Camtoại. Niệt dó hoặc Cam toạ kích thích niêm mạc ruột hút nước, đổ vào ruột, tống ra ngoài đồng thời kéo theo Camtoại tống ra. Cam thảo làm giảm tác dụng hút nước Camtoại ở lại lâu bị ngấm gây độc.
Niệt dó còn được dùng làm ra giấy dó. Giấy này dùng in những tài liệu cần lưu trữ lâu dài.
Cây Đuôi chuột
![]() |
| Cây Đuôi chuột |
Là loại cỏ thấp, cao khoảng 2 m. Cụm hoa đứng ở ngọn cây dài 20 - 40 cm trông như đuôi chuột. Toàn trạng tương tự cây Cỏ roi ngựa.
- Cây tươi giã đắp trị viêm da, ung nhọt, chấn thương.
- Viêm họng, viêm amidan: lá tươi nhai nuốt nước dần.
- Viêm đường tiết niệu: cành lá 15 - 30g, nấu uống.
- Đau nhức xương: cây Đuôi chuột 30g, Dây đau xương 30g, Cốt toái bổ 30g. Nấu sắc uống.
Cây Bả chuột
Có tên Lan củ chén, Bào trục cánh. Tên khoa học Thecostele alata,họ Lan.
Là loại lan biểu sinh, lá thuôn dài 15 - 25cm, rộng 3,5 - 4,5cm. Cánh hoa mảnh, dài 14 - 40cm, mang nhiều hoa ở nửa trên, màu vàng nhạt.
Dùng làm bả chuột: cây thái nhỏ nấu sắc đặc, trộn với gạo rồi phơi khô, đặt nơi có chuột. Chuột ăn sẽ chết.
Cây Sầu đâu cứt chuột
![]() |
| Cây Sầu đâu cứt chuột. |
Là loại cây thấp cao 2 - 3m, trông có dạng cây Sầu đâu, quả nhỏ, hình thoi, dài 10mm, rộng 3 - 4mm. Dùng nhân quả trị lỵ amíp. Khi dùng mới đập vỡ quả lấy nhân. (Cây này có giới thiệu trong TSK số 121).
Cây Cau chuột Bà Nà
![]() |
| Cau chuột Bà Nà |
Là cây mọc hoang, thân hình trụ, đường kính 5 - 8cm. Quả có dạng cứt chuột.
Quả có vị chát, ăn với trầu thay hạt cau.
Ruột thân có bột, đập nát, nấu ăn chống đói.
Cây Cau chuột Nam bộ
![]() |
| Cau chuột Nam bộ |
Thân hình trụ, cao 4 - 5m, đường kính 5 - 6cm. Lá dài 50cm, rộng 1cm. Quả hình trứng dài 10 - 15 mm, rộng 5mm. Mọc trong rừng và các đảo ở miền Nam.
Dùng quả ăn với trầu thay cau.
Cây Cau chuột núi
![]() |
| Cau chuột núi |
Thân trụ, cao 5 - 6m, đường kính 10 - 15cm. Quả mọc so le hai bên của một cuống dài 15 – 20cm, quả có dạng cứt chuột. Cây mọc trong rừng miền Trung. Quả dùng ăn trầu thay cau. Ruột thân dùng nấu ăn chống đói.
Cây Cau chuột Ba Vì
![]() |
| Cau chuột Ba Vì |
Cây mọc thành bụi thưa, cao 2 - 6m. Hai lá chét ở đầu ngọn thường dính nhau như đuôi chim én. Quả hình quả trám, dài 10 mm có dạng như cứt chuột, khi chín màu vàng. Cây mọc chen chúc trong rừng ẩm.
Tác dụng:
- Lợi niệu: vỏ quả 10 - 20g, nấu uống.
- Trị giun đũa, trị sán: hạt già.
















