Cây Đơn kim
Đơn kim là cây thảo sống hằng năm, cao 0,3 - 1m, mặt ngoài thân có khía dọc, nhãn hoặc có lông rải rác. Lá mọc đối, cuống dài, có 3 lá chét hình mũi mác rộng, dài 2 - 4cm, rộng 1,5 - 2cm, gốc lá chét thuôn, đầu nhọn, mép có răng cưa. Lá chét lẻ ở giữa luôn to hơn các lé chét bên. Cụm hoa là đầu gần hình cầu, đơn độc hoặc tụ họp thành từng chùm đầu trên cuống hoa dài ở kẽ lá và đầu cành. Tổng bao gồm 7 - 10 lá bắc. Trên mỗi đầu, hoa ở vòng ngoài vô tính, có tràng hình lưỡi nhỏ, màu trắng, dài 7 - 15mm, xếp toả tròn trông như cánh của một bông hoa; đầu lưỡi nhỏ có 3 thuỳ nông; hoa ở trong lưỡng tính, tràng hình ống, dài 3,5 - 5mm, màu vàng có 5 thuỳ. Nhị 4 - 5, bao phấn có tai ngắn. Quả bế, hình thoi hẹp, dài 4 - 13mm, trông như cái kim, khi già màu nâu đen, có 3 cạnh không đều, đầu quả có 2 - 3 cái gai nhỏ để bám vào lông động vật và quần áo của người đi qua để phát tán.
Cây này còn mọc ở Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và hầu hết các nước trong khu vực nhiệt đới, cận nhiệt đới trên thế giới.
Theo Đông y, Đơn kim có vị đắng, nhạt, hơi the, tính mát; vào hai kinh can và thận; có tác dụng thanh nhiệt, mát máu, tiêu độc, sát trùng. Ở Việt Nam , cây này được dùng để chữa sưng họng phát sốt, chữa vết thương, dị ứng, mẩn ngứa, mề đay, rắn độc cắn. Liều 10 - 20g, sắc uống. Dùng ngoài, giã nát để đắp vết thương, vết bỏng, mụn nhọt, hoặc nấu nước tắm để chữa mẩn ngứa, các bệnh ngoài da và thấp khớp. Lá và hoa Đơn kim ngâm rượu để ngậm chữa đau răng.
Cây Đơn kim có chứa các nhóm chất polyacetylen, triterpen, tinh dầu và các axit hữu cơ.
Các polyacetylen có tác dụng kháng nấm và vi khuẩn. Các flavonoid có tác dụng chống chiêm, kháng khuẩn. Thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đã chứng minh dịch chiết ethanol hoặc chloroform từ lá Đơn kim (liều 50 m g/ml) có tác dụng diệt 86 - 90% ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum.Cao nước cây tươi có tác dụng ức chế đối với các vi khuẩn: Staphylococcus aureus, Proteus vulgaris, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, Streptococcus faecalis, Escherichia coli…Theo tài liệu, nước hãm của lá Đơn kim cũng có tác dụng chống bệnh đái tháo đường trên thực nghiệm.
Nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á dùng cây này làm thuốc giảm đau, giảm sốt, chữa ho, viêm họng, đau dạ dày. Ở Trung Quốc, cây Đơn kim được dùng để chữa lỵ, tiêu chảy, viêm ruột, đau họng, giải nhiệt và giải độc. Liều 4 - 16g, sắc uống. Dùng ngoài để chữa bọ cạp, nhện độc và rắn độc cắn. Ở Indonesia và châu Phi dùng ngọn non, lá non Đơn kim làm rau ăn, và làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Ở Nam Mỹ ( Mexico ), lá cây này được dùng pha nước uống như trà, có tác dụng bổ dưỡng và kích thích. Ở Philippines , dùng hoa để chế một loại rượu gọi là “sinitsit”.
Ở Việt Nam còn có loài Đơn kim 5 lá, hay Song nha kép ( Bidens bipinnata L., cùng họ Cúc). Cây này có lá xẻ 2 lần hình lông chim, dài 10 - 20cm, thuỳ hình trái xoan hoặc hình tam giác, mép có răng cưa to. Cụm hoa là chùm đầu. Mỗi đầu có cánh hoa hình lưỡi nhỏ ở vòng ngoài màu vàng, dài 5 - 6mm; cánh hoa hình ống ở trong cũng màu vàng. Cây này cũng chứa 9 hợp chất acetylen; thử in -vitro với liều 50 m g/ml cho thấy có tác dụng diệt tới 70% ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum.
Hiện nay, nguồn cây Đơn kim mọc hoang dại khá phong phú. Cây ưa ẩm và ưa sáng, phát triển nhanh. Khi cần có thể trồng bằng hạt để lấy nguyên liệu. Mỗi quả bế chứa một hạt, thu hái khi quả già, vỏ quả chuyển màu nâu đen.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 357, 1 - 6 - 2008, tr 18








