Cam chịu tội để cứu muôn người
Ông có 3 lần đi sứ Trung Quốc. Khi về được phong Đại lý tự khanh tra xét các việc kiện tụng trong thiên hạ. Lại giữ chức Tả tham nghị ở hai viện Binh, Chính rồi làm chức Thân quân ty cấm y vệ Đô chỉ huy sứ ty Thiêm sự. Năm 1468, có lần vua bảo ông : Ngươi là trời chăng? Là quỉ thần chăng? Sao lại biết trước thế?
Năm 1470, vua Thánh Tôn thân đi đánh Chiêm Thành vì Trà Toàn hung bạo, kiêu ngạo, khinh rẻ làm nhục sứ thần của ta và xâm nhiễu dân vùng biên giới. Vua cử ông làm Phi vận tướng quân chuyển thâu đội Tán lý đem lương thực đi đường biển. Đoàn thuyền lương của ông vào đến cửa biển Tư Khách ở Quảng Nam thì gặp bão to, sóng lớn, thuyền bè không thể nhích đi được, tiến trình thật gian lao vất vả. Quân lính sợ tội vì chậm trễ gắng sức chèo nên có thuyền đã bị đắm. Ông nói : Thà để một mình ta trái mệnh cam chịu tội dưới ba thước gươm, chẳng nỡ để lương thực quí giá bị lấp dưới làn sóng dữ và bao người vô tội bị làm mồi trong bụng cá.
Lúc ấy, quân viễn chinh thiếu lương thực vì thuyền lương thực chậm vào. Vua nổi giận, những kẻ hậu cận nhà vua lại đem lời gièm pha, nên nhà vua ra lệnh đem chém ông.
Khi vua nguôi giận, biết rõ sự thực vội tuyên chỉ tha tội cho ông, nhưng tiếc thay lệch trước đã thực thi. Vua hối hận bèn phong ông làm Phúc thần và cho lập đền thờ ông.
Sau đó, ở 12 cửa biển miền Trung, 43 xã thôn của 3 phủ Hà Trung, Thiệu Hoá, Tĩnh Gia thuộc Thanh Hoá (nơi ngài làm quan trước đây), tại Nội am xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, hà Nội và Ngọc Nữ Phúc Động xã Tiền Phong huyện Thường Tín Hà Tây cũng như ở quê hương Tứ Kỳ, Hải Dương đều đã lập đền miếu thờ ngài.
Khoảng năm Cảnh Thống (1498 - 1504), Ngài được tặng Văn trung chính nghị. Triều Nguyễn lại gia phong bốn chữ : Minh Đạo Hiểu ứng. Có nhiều chuyện nói về sự linh ứng của Ngài trong dân gian và được khắc cả vào bia, chép vào các sách như Ô châu cận lục, Tang thương ngẫu lục, Bắc thành địa dư chí lục, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Thông quốc thần kỳ...
Đền thờ Ngài tại quê hương được đặt theo tên hiệu của Ngài là Tùng Giàng từ. Đền do lâu ngày bị hư đổ, đến năm Vĩnh Tộ thứ 4 (1622) có viên Đồng tri phủ bản hạt đã cùng các nhà nho của huyện Gia Phúc, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại đứng ra tu tạo lại, và dựng bia ghi sự tích Ngài. Bia này do Tiến sĩ khoa Nhâm Thân (1592) Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Tán trị Sơn Nam xứ Thừa chánh sứ, tước Lương Xuyên bá Phạm Đôn Phu soạn.
Qua lời nói của Nguyễn Phục, qua cái chết oan mà ngài đã nhận để đề cao quân pháp há chẳng phải là một tấm gương của người xưa để lại cho chúng ta soi chăng? Sống và làm việc theo pháp luật phải chăng là như vậy?
Nguồn : T/c Xưa Nay, số 265, 8/2006








