Các thuốc gây hại xương
Các corticoid
Với liều sinh lý, corticoid có tác dụng tích cực trên sự tạo xương, nhưng ở liều cao, kéo dài, corticoid đối kháng với vitamin D, ức chế ruột hấp thu canxi; giảm tái hấp thu canxi, phospho ở ống thận, làm hạ canxi huyết, làm tăng quá trình hủy xương. Corticoid còn ức chế hình thành protein - collagen, làm trở ngại sự lắng đọng canxi vào khung xương, cản trở việc tạo xương. Từ đó gây loãng xương, đặc biệt là xương sườn, xương sống, dẫn đến gãy xương (không do chấn thương) hoặc gây hoại tử xương và teo cơ (không do nhiễm khuẩn) ở xương cánh tay hay đầu xương đùi… Riêng với trẻ em, corticoid ức chế somatomadin - C (một tác nhân làm phát triển xương, sụn) do đó ức chế sự phát triển chiều cao, vì thế cần hạn chế dùng corticoid và tuyệt đối tuân thủ chỉ định của bác sĩ để hạn chế ảnh hưởng đến tuyến thượng thận. Hiện nay đã có một số liệu pháp thay thế hoặc vẫn dùng corticoid nhưng dưới tác dụng tại chỗ. Ví dụ: để kiểm soát hen, không dùng corticoid dạng uống, tiêm mà dùng dạng hít. Nếu cần dùng corticoid lâu dài, phải chủ động bổ sung canxi, vitamin D hoạt tính (25 - hyđroxyvitamin D).
Các thuốc chống động kinh
Thuốc chống động kinh làm tăng hyđroxylase, oxylase ở vi lạp thể gan, khiến cho vitamin D ở gan không chuyển hóa được thành chất hoạt tính (25 - hyđroxyvitamin D) làm trở ngại hấp thụ canxi, gây hạ canxi máu. Riêng phenobarbital còn ức chế quá trình lắng đọng canxi vào khung xương, cản trở việc tạo xương. Từ đó dẫn đến loãng xương.
Cách phòng chống:cần chủ động bổ sung canxi, photpho và vitamin D dạng hoạt tính, cần định kỳ kiểm tra canxi, photpho, phosphatase kiềm trong máu khi dùng thuốc.
Các loại thuốc trầm cảm
Gần đây, đo mật độ xương hàng năm (trong 4,9 năm) của 2.722 phụ nữ loãng xương nhận thấy: Mức giảm mật độ xương hàng năm của nhóm dùng thuốc trầm cảm ức chế thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI) là 0,82%, ở nhóm dùng trầm cảm 3 vòng, và nhóm không dùng thuốc trầm cảm chỉ 0,47%. Tỷ lệ mất xương cao xảy ra ở 2 tiểu vùng xương hông. Người loãng xương, nếu phải dùng thuốc trầm cảm thì bác sĩ sẽ chọn loại không hại xương. Nếu cần dùng SSRI, phải theo dõi cẩn thận, khi bệnh ổn định, tạm ngừng thuốc.
Thuốc chống đông máu heparin, coumarin
Heparin ức chế enzym làm giảm sự hợp thành collagen - xương, làm giảm lượng vitamin D trong máu gây trở ngại việc hấp thu canxi; kết hợp với canxi thành phức canxi - heparin, cản trở sự lắng đọng canxi vào khung xương; cạnh tranh với chất nền xương phosphat. Các coumarin (đặc biệt là warfarin) đi qua hàng rào nhau thai gây loạn dưỡng sụn xương.
Cách phòng chống:Nếu có thể, thay thế heparin, warfarin bằng thuốc khác. Ví dụ: dùng aspirrin (mỗi ngày 80mg) dự phòng đông máu mà không sợ ảnh hưởng xấu cho thai. Nếu dùng heparin mà thấy gây hại xương phải ngừng thuốc ngay.
Một số kháng sinh, vitamin
Các fluoroquinolon gây thoái hóa sụn khớp ở các khớp chịu lực trên súc vật còn non. Tetracyclin ảnh hưởng xấu đến việc hình thành mầm răng, men răng, gây dị tật xương ngón chân tay. Không dùng cho người có thai, cho con bú, trẻ dưới 15 tuổi.
Vitamin A (retinoid, isotretionin) dùng lâu dài chống mụn sẽ làm hủy chất khoáng xương, giảm độ dày xương, đóng sớm đầu xương không hồi phục. Khi mụn nhẹ chỉ dùng thuốc bôi chống viêm nhiễm; nếu dẫn không đat hiệu quả mới dùng đến loại chống tiết bã isotretionin dùng ngoài. Chỉ khi các biện pháp này không đáp ứng mới dùng đến isotretionin dạng uống.
Thuốc lợi tiểu
Furosemid tác dộng ở nhánh đi lên của quai Henlé, ức chế tái hấp thu ion natri và chlorid gây lợi tiểu; đồng thời tăng bài tiết ion magiê, canxi. Do làm tăng thải trừ canxi nên gây ảnh hưởng xấu đến xương. Chỉ khi dùng lâu dài mới gây hại xương, trong điều trị cao huyết áp, nên dùng thuốc lợi tiểu thiazid không gây hại xương.
Thuốc chống loãng xương biphosphonat
Các loại biphosphonat chứa nitrogen ức chế chuyển hóa xương trong một thời gian dài dẫn đến sự trì trệ trong quá trình phục hồi xương do nhiễm khuẩn, đặc biệt ở xương hàm, gây hủy xương này. Tai biến chỉ xảy ra nhiều khi dùng zoledronic tiêm, trong điều trị ung thư đa u tủy, ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt… rất hiếm xảy ra khi dùng biphosphonat uống điều trị loãng xương (tỷ lệ tai biến là 7 phần triều/ năm). Vì vậy vẫn dùng biphosphonat uống điều trị loãng xương, song thời gian dùng dài, nếu có bất thường ở xương hàm (đau âm ỉ) thì nên báo cáo với thầy thuốc.
Thuốc chữa đái tháo đường nhóm glitazon
Nghiên cứu gần đây (ADOP, 2007), trên 4.360 trường hợp cho biết: nữ (đã bị đái tháo đường týp 2 trên 4 năm) dùng rosiglitazon có tỷ lệ gãy xương là 9,3%, trong khi tỷ lệ này với metformin là 5,1% và với glibetamid là 3,5%. Nghiên cứu với pioglitazon cũng cho kết quả tương tự. Cần cảnh giác với nguy cơ gãy xương khi dùng các thuốc này, đặc biệt là cho nữ cao tuổi, sau mãn kinh.
Kết luận
Quá trình thuốc gây hại xương diễn ra lâu dài, khó nhận biết, một số gần đây mới được chú ý đến. Tránh lạm dụng, chỉ dùng các thuốc này khi thật cần thiết, nếu phải dùng lâu dài thì nên chủ động bổ sung canxi và vitamin D dạng hoạt tính.








