Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 28/07/2006 00:34 (GMT+7)

Các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ với vai trò thể hiện thái độ của tác giả với nhân vật trong Truyện Kiều

Ở tuyến nhân vật chính diện, Nguyễn Du đã xây dựng nên những con người lí tưởng với nhiều phẩm chất tốt đẹp. Dưới con mắt của ông, họ hiện lên với tất cả vẻ đẹp về hình thức lẫn tâm hồn. Và đối với họ, thái độ của ông hầu như bao giờ cũng là sự ngợi ca.

Có thể nói, Thuý Kiều là nhân vật mà Nguyễn Du đã dành tâm lực nhất. Ông muốn xây dựng nên hình ảnh một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn song lại bị cuộc đời xô đẩy, phải chịu nhiều đắng cay tủi cực. Vì lẽ đó, Nguyễn Du luôn luôn dành sự yêu mến của mình cho nhân vật này. Có thể nhận rõ điều này qua cách tác giả dùng từ ngữ để chỉ nhân vật. Chẳng hạn:

(1) Người quốc sắc, kẻ thiên tài

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

Hay:

(2) Trai anh hùng, gái thuyền quyên,

Phỉ thuyền sánh phượng, đẹp duyên cười rồng.

Người quốc sắclà người có “sắc đẹp nhất nước” [6, 23]. Còn gái thuyền quyêntức là “người con gái xinh đẹp” [1, 184]. Gọi Thuý Kiều bằng những từ ngữ này chính là Nguyễn Du đã gián tiếp ca ngợi vẻ đẹp cũng như muốn bày tỏ thái độ trân trọng, yêu mến của mình đối với nàng.

Ngay từ đầu tác phẩm, Thuý Kiều đã được tác giả miêu tả với sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Và dường như, muốn khẳng định hơn nữa vẻ đẹp của Thuý Kiều cho nên Nguyễn Du còn dùng rất nhiều hình ảnh tượng trưng để gọi tên nhân vật này. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã không ngần ngại sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc trong kho tàng văn học nói chung để tượng trưng cho vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật. Chẳng hạn:

(3) Trướng tô giáp mặt hoa đào,

Vẻ nào chẳng mặn, nét nào chẳng ưa.

Hay:

(4) Tiếng sen sẽ động giấc hoè,

Bóng trăng đã xế hoa lêlại gần.

Người xưa vẫn thường ví vẻ đẹp của người phụ nữ như bông hoa. Ở đây, Nguyễn Du đã sử dụng hình ảnh tượng trưng quen thuộc ấy để miêu tả vẻ đẹp của Thuý Kiều, ví nàng như hoa lê, hoa đào.

Một ví dụ khác:

(5) Bóng ngathấp thoáng dưới mành

Trông nàng, chàng cũng ra tình đeo đai.

Mặt trăng cũng vốn là hình ảnh quen thuộc thường được dùng để miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ. Nguyễn Du cũng đã sử dụng hình ảnh này khi nói về vẻ đẹp của Thuý Kiều. Nhìn chung, việc tác giả sử dụng các hình ảnh tượng trưng không nằm ngoài mục đích muốn ca ngợi vẻ đẹp cũng như bày tỏ thái độ trân trọng, yêu mến của mình đối với người con gái tài sắc này.

Tình cảm yêu mến của Nguyễn Du không chỉ danh cho nhân vật Thuý Kiều mà còn dành cho những nhân vật trữ tình khác như Kim Trọng, Từ Hải.

Với Kim Trọng, ngay từ đầu tác phẩm, Nguyễn Du đã giới thiệu cho chúng ta thấy hình ảnh một chàng công tử hào hoa phong nhã. Dưới con mắt Nguyễn Du, Kim Trọng hiện lên thật tương xứng với Thuỳ Kiều.

Dẫn lại ví dụ (1):

Người quốc sắc, kẻ thiên tài

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.

Nếu như Thuý Kiều là người “đẹp nhất nước” thì Kim Trọng lại là “người tài do trời sinh” [1,457]. Chính vì thế, cả hai con người này đã tạo thành một cặp tình nhân lí tưởng trong con mắt Nguyễn Du và trong con mắt người đọc.

Xây dựng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du muốn gửi gắm vào con người ngày sứ mệnh cao cả là giải phóng Kiều. Con người tài sắc như Kiều sinh ra vốn để được yêu thương, nhưng rồi nàng chỉ toàn gặp bất hạnh. Giữa lúc Kiều đang đau đớn khi bị đẩy vào lầu xanh lần thứ hai thì Từ Hải xuất hiện, đón lấy Kiều, đưa Kiều thoát ra khỏi vũng bùn nhơ nhuốc ấy. Từ Hải đã làm được cái việc mà không phải ai cũng có thể làm được. Chính vì thế, đối với Từ Hải, thái độ của Nguyễn Du cũng luôn luôn là sự ngợi ca và trân trọng.

Kim Trọng và Từ Hải đều là hai người tình tuyệt vời của Thuý Kiều. Nếu như Kim Trọng hiện lên với vẻ đẹp của một chàng công tử hào hoa phong nhã thì Từ Hải lại hiện lên với khí phách của người anh hùng. Nguyễn Du đã dùng nhiều mĩ từ khác nhau để gọi tên nhân vật Từ Hải nhằm thể hiện phẩm chất của nhân vật này:

(6) Đường đường một đấng anh hào

Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.

Ngay từ khi mới xuất hiện, Nguyễn Du đã muốn nhấn mạnh đến phẩm chất anh hùng của Từ Hải, muốn thể hiện thái độ yêu mến cảm tình và có phần đề cao của mình với nhân vật này, Nguyễn Du đã dành từ trượng phucho Từ Hải:

Hay: (7) Nửa năm hương lửa đang nồng

Trượng phuthoắt đã động lòng bốn phương.

Trượng phulà từ dùng để chỉ “người đàn ông tài giỏi, có chí lớn” [6,163]. Gọi Từ Hải bằng cách gọi này, rõ ràng Nguyễn Du muốn đề cao sức mạnh của chàng.

Như trên đã nói, trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du đã dùng nhiều những hình ảnh tượng trưng để gọi tên nhân vật. Giá trị của những hình ảnh này không chỉ đơn thuần nhằm mục đích ca ngợi vẻ đẹp hình thức của nhân vật mà cao hơn, Nguyễn Du còn muốn gửi gắm vào đó một thái độ cảm thông sâu sắc đối với những nỗi bất hạnh của con người trong xã hội cũ mà đại diện là nhân vật Thuý Kiều. Chẳng hạn:

(8) Tiếc thay một đoá trà mi,

Con ong đã tỏ đường đi, lối về.

Gọi Thuý Kiều, là đoá trà mi, rõ ràng Nguyễn Du không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của Thuý Kiều mà còn muốn bày tỏ tâm trạng xót xa của mình trước thân phận một người con gái đẹp nhưng lại phải chung chạ với một kẻ ma cô “phong tình” như Mã Giám Sinh.

Đã có lúc Nguyễn Du gọi Thuý Kiều là sắn bìm:

(9) Sắn bìmchút phận con con,

Khuôn duyên biết có vuông tròn cho chăng?

Gọi Thuý Kiều là sắn bìm, rõ ràng Nguyễn Du không phải là nhằm coi thường nàng mà hình như ông xót xa, lo lắngkhi đang cảm nhận thấy một cái gì đó bấp bênh trong cuộc sống của Thuý Kiều, bởi nàng đang phải sống nhờ như một loại dây leo.

Hoặc:

(10) Xót thay đào límột cành,

Một phen mưa gió tan tành một phen!

Quả nhiên, Thuý Kiều sớm bị rơi vào tay mẹ con nhà Hoạn Thư. Trước cảnh đó, Nguyễn Du đã không khỏi xót xa khi Kiều bị rơi vào hết sự đày đoạ này đến sự đày đoạ khác. Gọi Thuý Kiều là đào límột cành, Nguyễn Du còn muốn nhấn mạnh đến sự lẻ loi đơn chiếc của nàng khi nàng một mình phải đối mặt với những bất hạnh.

Nếu như Nguyễn Du luôn dành những tình cảm yêu mến, ngợi ca và sự đồng cảm sâu sắc đối với những con người tài sắc nhưng gặp nhiều bất hạnh thì với những kẻ đại diện cho tầng lớp thống trị, thái độ của Nguyễn Du lại là sự lên án và tố cáo. Điều này thể hiện rõ nết trong cách tác giả gọi tên những nhân vật này. Chẳng hạn:

(11) Vài tuần chưa cạn chén khuyên

Mái ngoài nghỉđã giục liền ruổi xe.

Nghỉtức nó, hắn. Cách gọi này đã cho thấy thái độ khinh bỉ của tác giả đối với Mã Giám Sinh. Mã Giám Sinh là tay sai đắc lực của Tú bà, đảm nhận phần “đi dạo lấy người”. Khi thấy Mã Giám Sinh mua Kiều, Nguyễn Du một mình thương xót Thuý Kiều, mặt khác ông đã không ngần ngại tỏ thái độ bất bình khi thẳng thừng gọi Mã Giám Sinh là thuyền lái buôn:

(12) Xót nàng chút phận thuyền quyên.

Cành hoađem bán vào thuyền lái buôn.

Đối với Tú bà, Nguyễn Du cũng bày tỏ rõ một thái độ khinh ghét, thiếu thiện cảm. Hầu như tất cả các trường hợp phải nói đến nhân vật này, Nguyễn Du đều dùng từ mụ:

(13) Mụrằng: “Ai cũng như ai

Người ta ai mất tiền hoài đến đây”.

(14) Mụcàng kể nhặt, kể khoan,

Gại gùng đến mức nồng nàn mới tha.

Mụlà cách gọi người đàn bà có tuổi, hàm ý coi khinh.[9,626]. Có thể nói, Tú bà là một trùm lưu manh và gian ác. Chính vì thế, đây là cách gọi hoàn toàn phù hợp với hình dáng và bản chất của mụ và ở đây, ta thấy thái độ của tác giả cũng được thể hiện nay trong ý nghĩa của cách gọi này.

Sở Khanh dưới con mắt Nguyễn Du cũng là một nhân vật tồi tệ, đáng khinh bỉ, căm ghét. Nguyễn Du đã không ngần ngại dùng từ mặt mo để gọi nhân vật này:

(15) Còn đương suy trước nghĩ sau,

Mặt mođã thấy ở đâu dẫn vào.

Mặt motức là “mặt trơ như cái mo, không biết xấu hổ” [1,288]. Ở đây ta thấy, chỉ thông qua từ mặt mo, Nguyễn Du không những đã khắc hoạ được bản chất xấu xa, giả dối của Sở Khanh mà còn bộc lộ rõ sự khinh bỉ của mình đối với con người này. Và khi Sở Khanh bị Thuý Kiều vạch mặt, Nguyễn Du đã một lần nữa bộc lộ thái độ khinh bỉ của mình:

(16) Phụ tình án đã rõ ràng

Dơ tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui.

Gọi Sở Khanh là nghỉ,thái độ mà Nguyễn Du bộc lộ ở đây giống như thái độ mà ông đã bộc lộ với Mã Giám Sinh.

Tóm lại, trong tác phẩm Truyện Kiều, Nguyễn Du đã thể hiện rất rõ những tình cảm, thái độ của mình đối với từng nhân vật trong tác phẩm. Với những nhân vật chính diện như Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Nguyễn Du dành cho họ những tình cảm yêu thương, quý trọng, thậm chí đề cao. Còn đối với những nhân vật phản diện như Tú bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh v.v…Nguyễn Du lại thể hiện thái độ khinh miệt, căm ghét. Tất cả những thái độ này của Nguyễn Du được bộc lộ qua việc sử dụng những từ ngữ đồng sở chỉ để gọi nhân vật của ông.

_____________

Tài liệu tham khảo

1. Đào Duy Anh - Từ điển Truyện Kiều, NXB KHXH HN, 1987.

2. Đỗ Hữu Châu - Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, NXB GD HN, 2001.

3. Đỗ Hữu Châu - Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, NXB ĐHSP HN, 2003.

4. Đỗ Hữu Châu - Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB GD, 1999.

5. Trịnh Bá Đĩnh (tuyển chọn và giới thiệu) - Nguyễn Du về tác gia và tác phẩm, NXB GD, 1992.

6. Nguyễn Du - Truyện Kiều, NXB VN-TT HN, 1998.

7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn học, NXB GD, 1992.

8. Cao Xuân Hạo - Câu trong tiếng Việt, quyển 1, NXB GD, 2003.

9. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa - Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, NXB ĐHSP, 2004.

10. Hoàng Phê (chủ biên) - Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học Hà Nội – Đà Nẵng, 1996.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 3 (125), 2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.