Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/03/2009 16:16 (GMT+7)

Các giải pháp quản lý chất thải rắn ở châu Á

1. Phát triển các trang thiết bị xử lý chất thải như bãi rác và lò thiêu rác, thường cả hai biện pháp này được quan tâm nhiều. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng cần động viên cộng đồng tham gia vào quá trình lựa chọn địa điểm an toàn và sạch sẽ nếu có thể được, đồng thời tận dụng các điều kiện địa phương để cải thiện tác động của tài nguyên môi trường và giá cả, đặt các bãi rác ở các vị trí có lợi về địa kỹ thuật. Các trang thiết bị xử lý chất thải thường có tuổi thọ ngắn (khoảng 25 năm), cần thống nhất chặt chẽ trong một kế hoạch tổng thể phán ánh các yêu cầu của khu vực cũng như các tài liệu tiêu chuẩn và cơ chế tài chính. Sự chính xác hoá kỹ thuật có hiệu quả và quá trình lập kế hoạch rõ ràng biểu hiện được mối quan tâm đầy đủ và không hạn chế ý kiến đóng góp của cộng đồng.

2. Chính quyền các địa phương phải cố gắng giảm thiểu thu gom rác thải sinh hoạt tối đa hai lần một tuần, vừa thích hợp với triển vọng, sức khoẻ cộng đồng, vừa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Công dân được khuyến khích tự đưa chất thải vào côngtenơ để tăng hiệu quả thu gom rác thải.

3.Chính quyền các địa phương phải tập trung thu gom rác thải sinh hoạt, đặc biệt là chất thải từ các khu vực nghèo, đông dân cư và uỷ thác cho khu vực thu gom tư nhân lấy rác thải từ các nguồn rác thải sinh hoạt. Việc thu gom rác thải thương mại, rác thải công sở và chất thải công nghiệp có thể do cơ sở tự túc. Chính quyền các địa phương phải cấp phép cho những người thu gom tư nhân, tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo thu thập và xử lý riêng.

4. Chính quyền các thành phố phải chịu trách nhiệm xử lý chất thải dựa vào khả năng thu gom và sản sinh rác thải. Người sử dụng trực tiếp chịu trách nhiệm và chịu chi phí thu gom chất thải với cộng đồng kinh doanh của mình.

5. Cần thực hiện phương pháp tiếp cận thống nhất đối với việc quản lý chất thải rắn. Người quản lý chất thải đô thị phải lựa chọn giải pháp ít phức tạp về kỹ thuật và ít tốn kém. Sự phân tán chất thải có chiều hướng gia tăng nên cần có nhận thức xu thế ngày càng gay gắt về chất thải trong tương lai. Chẳng hạn, ở các nước công nghiệp hoá cao trên thế giới hiện chỉ chiếm có 16% dân số nhưng sử dụng đến 75% lượng giấy được cung cấp. Vấn đề này có ảnh hưởng đối với các nước đang phát triển ở châu Á về giá cả trên toàn cầu và cả về chi phí xử lý chất thải.

6. Tất cả chính quyền các cấp, các công ty đa quốc gia, các hãng sản xuất trong nước và quốc tế cần tham gia vào chương trình phát triển lâu dài. Ví dụ: chịu trách nhiệm về các sản phẩm mở rộng, phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, trao đổi chất thải và chế độ thuế đối với các nguồn tự nhiên.

7. Chính quyền các nơi phải đánh giá việc tự nguyện và khả năng của cộng đồng tham gia vào thiết kế và thực hiện chương trình quản lý chất thải. Thông qua các bên đối tác, các chương trình phát triển có thể triển khai theo phương thức bổ sung, dựa trên cộng đồng, phát triển doanh nghiệp vĩ mô, phân loại rác thải nhằm tái sử dụng quay vòng và làm phân bón, giảm dần việc thu gom rác. Chính quyền địa phương phải dự tính được khả năng sẵn sàng và thực lực của cộng đồng tham gia vào chương trình tiến bộ về quản lý chất thải.

8. Chính quyền các địa phương phải đẩy mạnh việc quản lý chất thải theo các cấp khác nhau: (ví dụ: giảm, tái sử dụng hay quay vòng,...) và khuyến khích thực hiện phân loại chất thải để tăng tối đa khả năng giải quyết trong tương lai. Nơi nào thích hợp, thì chính quyền phải xem chất thải rắn như là một "nguồn lực" chứ không phải là một vấn đề nan giải của địa phương.

9. Việc thu gom chất thải, xử lý và chi phí xử lý thường là gánh nặng tài chính cho địa phương, nhất là khi phải thực hiện lâu dài với các phát sinh tự nhiên qua nhiều năm đối với nhiều người chịu trách nhiệm. Các khu đô thị tại châu Á hiện phải chi gần 30 tỷ USD cho quản lý chất thải rắn hàng năm; con số này có thể tăng gấp đôi đến năm 2025, với tốc độ sản sinh chất thải hàng ngày là 760.000 tấn. Đến năm 2025, con số này sẽ đạt tới 1,8 triệu tấn. Việc lo ngân sách để đối phó với thách thức này là không đơn giản.

10.Chính quyền địa phương thường có vai trò quan trọng nhất trong việc khẳng định trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải rắn. Tuy nhiên việc cấp tiền một cách chắc chắn và quy định các điều khoản dịch vụ bền vững phải được lãnh đạo giải quyết. Chính quyền địa phương cần có sự hỗ trợ của các cấp chính quyền trong việc cung cấp dịch vụ quản lý chất thải có hiệu quả. Phương pháp tiếp cận ở phạm vi khu vực đối với việc xử lý chất thải (ví dụ: bãi rác chung) là cực kỳ quan trọng.

11. Nhìn chung các nhà quy hoạch chất thải rắn thường tập trung quá nhiều vào chất thải sinh hoạt. Chất thải này chỉ chiếm 30% toàn bộ nguồn chất thải chính, nhưng thường được chú ý quá mức. Chi phí cũng thay đổi ngay cả trong các nước phát triển. Chẳng hạn, Nhật Bản đã chi phí cho xử lý chất thải gấp 10 lần so với chi phí thu gom (chủ yếu là thiêu đốt rác). Tổng số chi phí chất thải ở các nước có thu nhập thấp thường vượt quá 80% chi phí thu gom:

Để giảm chi phí, cần có các biện pháp sau:

- Chứa vào bãi rác, thường chọn cách xử lý chất thải dễ nhất là thiêu đốt.

- Tập trung vào chất hữu cơ và giấy là hai trong số các thành phần của nguồn rác thải, trong đó, giấy là nguồn phát triển nhanh nhất ở nhiều nước. Người quản lý chất thải nhất thiết phải tập trung vào các thành phố, tại đó có các khu dân cư đô thị, thường sản ra hai ba lần lượng chất thải rắn nhiều hơn so với cư dân ở nông thôn.

- Tiếp tục phươngpháp tiếp cận khu vực về những vấn đề cụ thể khác như quy định về bao gói, về trách nhiệm quản lý, về điều lệ xuất nhập khẩu.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.