Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 09/08/2006 13:33 (GMT+7)

Các biện pháp hữu hiệu phòng ngừa bệnh ở cá biển nuôi lồng

Ban đầu chỉ những loài cá chưa thành thục được đánh bắt từ vùng ven biển được nuôi trong lồng, nhưng hiện nay nhiều loài cá có thể được sản xuất trong các trại ương, đặc biệt ở Ðài Loan. Phần lớn các loài cá biển nhiệt đới được tìm thấy trong khu vực này thuộc 3 họ Centropomidae (cá sơn biển), Lutjanidae (cá hồng) và Serranidae (cá mú, cá song). Trong số 3 họ trên, cá hồng và cá song (cá mú) là hai loài được nuôi chủ yếu trong lồng. Hầu hết các trại nuôi cá lồng lưới ở Ðông Nam Á đều gặp khó khăn trong việc kiểm soát sức khoẻ của cá.

Tần số xuất hiện nhiều bệnh ở cá nuôi đã tăng lên trong những năm gần đây với sự phát triển nhanh và tập trung lớn hơn của các trại nuôi cá cũng như số lượng lớn các loài cá trong các trại nuôi. Sự nhân giống quy mô lớn, mua bán cá hương/cá bột giữa các vùng, các nước khác nhau đều là các yếu tố chính góp phần làm xuất hiện các bệnh mới và trầm trọng ở cá biển nuôi. Một số các loài cá mới dễ mắc bệnh hơn các loài khác.

Hầu hết sự bùng nổ bệnh tập trung trong giai đoạn từ 2 12 tuần đầu tiên sau khi đưa cá vào nuôi trong lồng lưới. Mức độ nghiêm trọng phụ thuộc vào điều kiện vận chuyển cá trên đường, kích cỡ cá và các loài cá. Ví dụ, cá sơn biển giống khoảng 5 - 8cm rất dễ mắc bệnh thối đuôi ngay sau khi được đưa vào lồng lưới, nhưng các loài cá khác không thường xuyên bị nhiễm. Gần đây (2001/2002), người ta thấy rằng một số lượng lớn cá hồng đỏ cỡ 5cm mới được đưa vào nuôi cũng dễ dàng bị nhiễm bệnh thối đuôi. Ðiều này dẫn đến khoảng 5 -10% tỷ lệ cá chết. Việc sớm phát hiện ra bệnh và điều trị kịp thời là rất quan trọng.

Có nhiều tác nhân gây bệnh, đó là vi khuẩn (Vibrio spp. và Flexibacter maritimus), động vật đơn bào (Cryptocaryon irritans và Trichodina spp.) và động vật sinh sản vô tính (Benedenia spp., Neobenedenia spp., Diplectanum spp., Pseudorhabdosynochus spp., và Haliotrema spp.). Gần đây, một số lượng lớn cá song bột nhập khẩu đột nhiên chết trong các lồng lưới ở Trung Quốc vì bị nhiễm một loại virus mới. Các triệu chứng như vậy cũng xuất hiện đối với cá hồng bột nhập khẩu ở Malaixia.

Thông thường, cá nuôi bị nhiễm ký sinh trùng sinh sản vô tính cao hơn so với những con cá nuôi khoẻ mạnh và cá sống ngoài tự nhiên. Hệ vi khuẩn thường có sẵn trong môi trường nước cũng như ở hệ tiêu hoá của cá, còn động vật đơn bào và động vật sinh sản vô tính lại được đưa vào cùng với cá. Một khi chúng được đưa vào trong trại nuôi thủy sản, thì khó có khả năng tiêu diệt được chúng.

Các hoạt động bảo dưỡng thường xuyên ở một khu nuôi lồng lưới nổi (thay lưới, rửa lưới, phân loại cá) cùng với cá chất lượng kém đã góp phần lớn gây ra stress. Hơn nữa, việc nuôi nhiều loài cá và các lứa nuôi gối nhau dẫn đến trại nuôi lồng lưới nổi trở thành một kho chứa các mầm bệnh.

Trước khi có thể triển khai một chiến lược kiểm tra và xử lý bệnh, cần thực hiện một số bước. Bước quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực của các trại nuôi, đặc biệt là phải tổ chức một số khoá đào tạo kỹ thuật về công tác quản lý trại nuôi cá như có thể nhận ra các tác nhân gây bệnh và sử dụng thích hợp các cách trị bệnh, các loại hoá chất. Việc đúc kết kinh nghiệm tại trại nuôi với sự tham gia của các công nhân nuôi là rất quan trọng. Công nhân nuôi phải có được sự hiểu biết thông thường khi cá có biểu hiện không khoẻ trong một lồng nuôi. Trong khoá đào tạo cần phải nhấn mạnh rằng, các hành động kịp thời để chữa trị cho cá bị nhiễm bệnh là rất quan trọng. Nếu trì hoãn sẽ dẫn đến kết quả thất thu sản lượng hoặc mất toàn bộ số cá nuôi trong lồng.

Bước thứ hai là thực hiện nghiên cứu dịch tễ học các tác nhân gây bệnh giữa nhiều loài cá nuôi trong trại, đặc biệt chú ý tới các loại và mật độ của các loài động vật đơn bào. Số liệu thu được sẽ cung cấp cho ta một sự hiểu biết sâu sắc về khả năng và mức độ gây bệnh cho cá nuôi ở trang trại đó. Chính phủ cần cung cấp các chỉ dẫn kỹ thuật cần thiết cho những người nuôi cá. Các đội trợ giúp về kỹ thuật từ Chính phủ cần tới thăm thường xuyên các trại nuôi cá và thảo luận về bất kỳ vấn đề nào gặp được trong trại nuôi. Họ cũng cần phải quy định cho những người nuôi cá thực hiện một số quy tắc của hoạt động nuôi trồng thủy sản. Ðiều này rất quan trọng, đặc biệt nếu cá được nuôi cho mục đích xuất khẩu.

Hầu hết, người nuôi cá sẽ đối mặt với bệnh trong 8 tuần đầu khi cá hương và cá bột được đưa vào trong lồng lưới. Trong thực tế, những người nuôi cá không có khả năng và phương tiện xác định xem cá giống có chứa bất kỳ tác nhân gây bệnh nào hay không. Bên cạnh đó, thời gian đưa cá đến trại nuôi chỉ vài giờ và với một số lượng lớn đã khiến cho các cá mới đưa đến như là tác nhân gây bệnh tự do, cá khoẻ mạnh có thể ngay lập tức bị đưa vào một ổ các mầm bệnh trong hệ thống lồng lưới.

Nhiều nghiên cứu về bệnh bao gồm cá biển được nuôi trong khu vực nhiệt đới đã chỉ ra các bệnh với nhiều mầm bệnh. Hầu hết các mầm bệnh được tìm thấy là vi khuẩn vibrio, động vật đơn bào và động vật sinh sản vô tính. Vì vậy, sự lựa chọn cách chữa trị là rất cần thiết. Ðộng vật đơn bào là những vật ngoại ký sinh, tức là chúng được tìm thấy ở bề ngoài cơ thể, trên mang hoặc trên và dưới vảy. Các mầm bệnh này có thể dễ dàng được xử lý với nước ngọt, mặc dù điều này là không hiệu quả lắm để điều trị mang. Formanlin là một hoá chất hữu hiệu có thể được sử dụng để xử lý động vật đơn bào và động vật sinh sản vô tính ở mang. Người ta phải thật cẩn thận khi sử dụng formanlin bởi vì nếu sử dụng quá nhiều formanlin có thể giết chết cá và nếu dùng quá ít thì lại không hiệu quả để loại bỏ các mầm bệnh. Cá thường bị tổn thương trong quá trình phân loại, đóng gói và vận chuyển, chúng có thể bị lây nhiễm vi khuẩn lần thứ hai khi cá được bao gói để vận chuyển.

Trong giai đoạn đầu để cá thích nghi với môi trường nuôi mới, chúng cần được xử lý thường xuyên với nước ngọt có hoặc không có thêm formanlin, xanh metylen và có thể là các kháng sinh thích hợp với điều kiện, kích cỡ và loài cá. Nói chung, việc xử lý nên không nhiều hơn 15 - 30 phút. Cá mới được đưa vào nuôi nên được xử lý với nước ngọt và 100ppm formanlin ở ngày thứ hai khoảng 30 phút với sục khí. Cách xử lý này được lặp lại ở ngày thứ tư, mỗi lần theo dõi cá thật gần để nhận biết bất kỳ dấu hiệu bị stress nào của cá. Trong tuần thứ hai, tốt nhất là không nên điều trị cho cá, nhưng còn phụ thuộc vào tình trạng của cá. Nếu cá khoẻ và ăn uống linh hoạt, thì không cần. Khi cần, có thể điều trị hàng tuần hoặc lâu hơn. Cá mới được thả có thể thích ứng với môi trường nuôi mới trong 4 tuần. Việc điều trị này được thực hiện không chỉ loại bỏ các mầm bệnh ở cá, mà còn rất quan trọng để cá thích nghi với môi trường nuôi mới. Không phải tất cả các loài cá đều được yêu cầu phải xử lý phòng bệnh. Việc xử lý phòng bệnh trên được thấy là rất hiệu quả đối với cá song và cá hồng đỏ, đặc biệt ở các trại có quần thể lớn các loài động vật sinh sản vô tính.

Có thể sử dụng từng loại hoá chất hoặc kết hợp với nhiều loại. Thậm chí sau khi xử lý, cá vẫn có thể bị nhiễm vi khuẩn, cụ thể là bị loét, thương tổn trên cơ thể (đặc biệt ở cá song) và bắt đầu chết sau một vài ngày. Trong những trường hợp như vậy, tốt nhất là tiêm thuốc có chứa lưu huỳnh cho tất cả cá trong lồng đó. Ðây là cách xử lý phòng bệnh rất đơn giản đối với cá mới được đưa vào nuôi nhưng hữu hiệu.

Một công nhân trại nuôi có kinh nghiệm cần có khả năng phát hiện sự tấn công của bệnh trong suốt thời gian nuôi. Dấu hiệu đầu tiên khi bệnh xuất hiện là cá không ăn uống không linh hoạt, một số con cá bơi chậm chạp trên mặt nước. Các hành động thích hợp phải được thực hiện ngay lập tức. Tất cả số cá bị nhiễm bệnh trong lồng đó phải được xử lý kịp thời bằng nước ngọt có hoặc không có formanlin hoặc xanh metylen. Nếu cá có các nốt đỏ hoặc thương tổn trên cơ thể, chúng cần được tiêm thuốc lưu huỳnh. Việc xử lý nước ngọt là để loại bỏ hoặc giảm mật độ các loài đơn bào và sinh sản vô tính, còn tiêm thuốc là để điều trị cá bị nhiễm vi khuẩn vibrio toàn thân. Việc xử lý nước ngọt và tiêm thuốc đã được sử dụng thành công ở nhiều trại nuôi cá ở Malaixia.

Các cách điều trị trên có hiệu quả chống lại hầu hết các bệnh, ngoại trừ bệnh tróc vảy ở cá vược và bệnh lở loét ở cá hồng xám. Chúng không có hiệu quả trong việc chữa trị bệnh nhiễm virus. ở Ðông Nam Á, cá vược bột rất dễ bị mắc bệnh thối đuôi. Các triệu chứng của bệnh này là đuôi bị thối và các cơ ở đuôi bị phá vỡ. Khi đó, tất cả cá vược trong lồng lưới cần phải được xử lý ngay lập tức bằng nước ngọt.

Cá cần được tiêm chủng chống lại bệnh như thế nào? Hiện nay, chúng ta còn biết rất ít về các loại bệnh trong cá biển nuôi ở Ðông Nam Á. Hầu hết cá được nuôi bị nhiễm vi khuẩn vibriosis, đặc biệt là cá song. Vắcxin cho vi khuẩn vibriosis hiện có sẵn ở thị trường ở châu Âu và Mỹ. Cá song được tiêm vắcxin ít bị mắc vi khuẩn vibriosis hơn trong giai đoạn thành thục. Ðể việc tiêm vắcxin hiệu quả, cá song cần đạt độ dài tối thiểu là 10cm và sau khi tiêm, cá cần được điều trị phòng bệnh như đã mô tả ở phần trên trong khoảng 10-14 ngày để tăng miễn dịch với vi khuẩn vibriosis. Vì nếu cá bị nhiễm từ nhiều nguồn gây bệnh khác sẽ làm giảm hiệu quả của việc tiêm vắcxin. Chương trình tiêm văcxin cần được thực hiện ở các trại nuôi với sự tham gia cuả người nuôi.

Nguồn: Tạp chí Khoa học Công nghệ Thuỷ sản, 7/2003

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tuổi trẻ Liên hiệp Hội Việt Nam hướng tới chào mừng Đại hội IX bằng những công trình thiết thực
Ngày 25/8, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) thực hiện công trình thanh niên hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, gồm hai hoạt động chính là cải tạo, chỉnh trang và gắn biển “Vườn hoa Thanh niên” và số hóa Phòng Truyền thống Liên hiệp Hội Việt Nam.
489 đại biểu chính thức tham dự Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức gặp mặt đại diện các cơ quan báo chí, thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Theo Ban Tổ chức, Đại hội sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Lào Cai: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng làm Trưởng ban Tổ chức Hội thi
Ngày 20/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 2945/QĐ-UBND về việc kiện toàn và thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cùng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng cấp tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng được tín nhiệm giao trọng trách Trưởng ban.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 8/2026: tập trung hoàn tất công tác tổ chức Đại hội IX
Chiều 22/8, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức hội nghị thường kỳ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 và báo cáo công tác chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc LHHVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.
Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.