Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Nội dung hội nghị không chỉ cập nhật quy định pháp luật mới, mà còn được thiết kế theo hướng “hiểu đúng - làm đúng - tự kiểm soát được”, giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hợp tác xã nhìn rõ mối liên hệ giữa định danh sản phẩm, dữ liệu truy xuất, thông tin trên nhãn và hồ sơ chứng minh chất lượng.

Chi cục trưởng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh Phú Thọ nguyễn Thị Tĩnh phát biểu Khai mạc Hội nghị. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.
Từ yêu cầu quản lý nhà nước đến nhu cầu thực hành của doanh nghiệp
Trong bối cảnh các văn bản quy phạm pháp luật đang được Quốc hội, Chính phủ cập nhật, sửa đổi và bám sát xu hướng của thế giới và có hiệu lực ngay trong năm 2026 đặt ra yêu cầu mới cho doanh nghiệp. Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa đang chuyển mạnh từ cách tiếp cận kiểm tra tiền kiểm sang quản lý theo rủi ro, số hóa dữ liệu và tăng hậu kiểm. Cùng với đó, khung pháp lý về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, mã số mã vạch, truy xuất nguồn gốc, ghi nhãn và nhãn điện tử được cập nhật đồng bộ hơn. Điều này khiến doanh nghiệp không thể tiếp tục xem mã số mã vạch hay tem QR chỉ là một khâu kỹ thuật ở cuối quá trình thiết kế bao bì.
Tại hội nghị các chuyên gia, báo cáo viên đưa ra quan điểm và cách tiếp cận theo chuỗi nghĩa vụ thực tế của một sản phẩm: sản phẩm phải được định danh đúng; dữ liệu phải được tạo lập và quản trị đúng; thông tin trên nhãn phải nhất quán; tiêu chuẩn và quy chuẩn áp dụng phải được xác định; bằng chứng chất lượng phải sẵn sàng; và toàn bộ hồ sơ phải có khả năng truy xuất khi cơ quan quản lý, nhà bán lẻ hoặc người tiêu dùng cần kiểm chứng.

Toàn cảnh Hội nghị với sự tham dự của đại diện cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và các đơn vị liên quan trên địa bàn. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.
Trong phần chuyên môn về truy xuất nguồn gốc, báo cáo viên của Hội nhấn mạnh một nguyên tắc nền tảng: truy xuất nguồn gốc là hệ thống ghi nhận, lưu trữ và cung cấp thông tin về lịch sử, vị trí và hành trình của sản phẩm trong chuỗi cung ứng; mã QR, DataMatrix, RFID hay NFC chỉ là vật mang dữ liệu. Vì vậy, “có QR” không đồng nghĩa với “có hệ thống truy xuất nguồn gốc”.
Một hệ thống truy xuất có giá trị phải trả lời được những câu hỏi tối thiểu: sản phẩm nào, thuộc lô/mẻ nào, được tạo ra ở đâu, bởi chủ thể nào, qua những công đoạn nào, ở thời điểm nào và dữ liệu nào chứng minh cho từng sự kiện. Các tiêu chuẩn như TCVN 12850:2019 về yêu cầu chung đối với hệ thống truy xuất nguồn gốc, TCVN 13274:2020 về định dạng mã dùng trong truy vết và TCVN 13275:2020 về vật mang dữ liệu cung cấp nền tảng kỹ thuật để các tổ chức thiết kế hệ thống có khả năng kết nối và kiểm chứng.
Chương trình cũng sử dụng các tình huống thực tế tại hợp tác xã nông nghiệp và chuỗi thực phẩm để minh họa cách thiết kế truy xuất phù hợp với từng ngành, từng quy mô và mục tiêu sử dụng. Thông điệp đưa ra rất rõ: hệ thống không cần phức tạp ngay từ đầu, nhưng phải phản ánh đúng quy trình thực tế, có dữ liệu đầu vào đủ tin cậy và có người chịu trách nhiệm duy trì. Đây là vấn đề đặc biệt có ý nghĩa đối với doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và chủ thể OCOP khi nguồn lực công nghệ còn hạn chế nhưng yêu cầu minh bạch thị trường ngày càng cao.

Ông Nguyễn Văn Chính – Trưởng ban chuyên môn, Chuyên gia của Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trình bày nội dung về truy xuất nguồn gốc và các mô hình triển khai tại doanh nghiệp. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.
Mã số mã vạch: từ “quét được” sang quản trị quyền sử dụng và dữ liệu sản phẩm
Ở hợp phần pháp luật về mã số mã vạch, nội dung được đặt trong bối cảnh Nghị định số 37/2026/NĐ-CP. Cách tiếp cận mới coi mã số mã vạch không chỉ là vạch và số để máy quét nhận diện tại điểm bán, mà là lớp định danh dữ liệu gắn với quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc.
Ba hiểu lầm phổ biến được làm rõ ngay tại Hội nghị. Thứ nhất, khi máy quét đọc thành công một mã chưa đảm bảo mã đó hợp pháp; doanh nghiệp phải chứng minh quyền sử dụng và dữ liệu gắn với mã phải đúng đối tượng. Thứ hai, tiền tố 893 là tiền tố GS1 Global cấp và gán cho GS1 Việt Nam (Thành viên chihs thức của GS1 Global), không tự thân chứng minh xuất xứ Việt Nam của hàng hóa. Thứ ba, ủy quyền sử dụng mã trong quan hệ đặt hàng - gia công không đồng nghĩa với chuyển nhượng hoặc cho thuê quyền sử dụng mã.
Đối với doanh nghiệp, trọng tâm tuân thủ nằm ở cả vòng đời dữ liệu: đăng ký và duy trì quyền sử dụng; tạo và gắn mã đúng đối tượng; khai báo, cập nhật dữ liệu trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông; bảo đảm tính đơn nhất; kiểm soát ủy quyền; không chuyển nhượng trái quy định; duy trì phí và hồ sơ; đồng thời bảo đảm dữ liệu mã thống nhất với nhãn hàng hóa, hồ sơ chất lượng và thông tin trên kênh phân phối, thương mại điện tử.
Một thông điệp quản trị được nhấn mạnh là “một sản phẩm - một hồ sơ tuân thủ số”. Hồ sơ không chỉ chứa quyền sử dụng mã mà còn gồm dữ liệu sản phẩm, mẫu nhãn, ủy quyền/gia công nếu có, kết quả kiểm thử quét và lịch sử thay đổi. Cách làm này giúp doanh nghiệp chuyển từ tư duy xử lý sự cố sang chủ động sẵn sàng hậu kiểm.

Ông Lê Xuân Trường - Chánh Văn phòng Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trình bày nội dung pháp luật và thực hành quản trị mã số mã vạch. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.
Ghi nhãn và công bố tiêu chuẩn: nơi “cam kết” phải gắn “bằng chứng”
Phần nội dung về ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm tập trung làm rõ một điểm mà nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh dễ nhầm: pháp luật không tồn tại một thủ tục duy nhất mang tên “công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm”. Doanh nghiệp phải phân biệt công bố tiêu chuẩn áp dụng, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và các thủ tục chuyên ngành tùy loại sản phẩm.
Đối với ghi nhãn, yêu cầu không dừng ở việc “có đủ chữ trên bao bì”. Tên hàng hóa, chủ thể chịu trách nhiệm, xuất xứ, cảnh báo, hướng dẫn và các nội dung bắt buộc khác phải được xác định theo đúng nhóm hàng và quy định chuyên ngành; đồng thời với những sản phẩm được định danh bằng mã số mã vạch phải thống nhất với dữ liệu mã số mã vạch, dữ liệu truy xuất, hồ sơ tiêu chuẩn và thông tin công khai trên môi trường số. Nhãn phụ, nội dung thương mại điện tử và nhãn điện tử đều cần được nhìn dưới cùng một nguyên tắc: thông tin phải chính xác, sẵn có, dễ tiếp cận và có thể giải trình.
Khung pháp lý mới cũng mở rộng vai trò của nhãn điện tử, nhưng nhãn điện tử không phải là một đường link quảng cáo. Việc sử dụng vật mang dữ liệu điện tử phải bảo đảm khả năng truy cập, tính thống nhất của dữ liệu và ranh giới giữa nội dung có thể thể hiện điện tử với nội dung vẫn phải giữ trên nhãn vật lý, đặc biệt đối với nhóm hàng có mức độ rủi ro trung bình hoặc cao và hàng hóa chịu điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành.
Với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, doanh nghiệp cần tách rõ ba câu hỏi: mình đang tự nguyện áp dụng tiêu chuẩn nào; sản phẩm có thuộc đối tượng phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật hay biện pháp quản lý chuyên ngành tương ứng không; và bằng chứng nào chứng minh sản phẩm phù hợp với nội dung đã công bố. Đây chính là điểm giao giữa pháp luật, quản trị chất lượng và trách nhiệm thị trường.

Đại biểu cơ quan quản lý và các đơn vị liên quan tham dự, trao đổi tại Hội nghị. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.
Đối thoại thực tiễn - “điểm chạm” quan trọng của tuyên truyền pháp luật
Không khí trao đổi tại Hội nghị cho thấy nhu cầu của doanh nghiệp và hợp tác xã không chỉ là được nghe quy định, mà còn cần được giải đáp cách áp dụng vào sản phẩm cụ thể. Nhiều vấn đề thực hành thường xuyên xuất hiện trong quá trình triển khai như lựa chọn giải pháp truy xuất phù hợp; quản lý dữ liệu theo lô/mẻ; phân biệt QR Code giới thiệu với QR Code phục vụ truy xuất; sử dụng mã số mã vạch đúng quyền; kiểm soát nhãn, hồ sơ tiêu chuẩn và thông tin trên kênh bán hàng; hay cách tổ chức bằng chứng để sẵn sàng khi hậu kiểm.
Phần thảo luận đã làm rõ giá trị của mô hình tuyên truyền theo hướng tương tác. Khi quy định pháp luật được đặt cạnh tình huống sản xuất, phân phối, bán lẻ và thương mại điện tử, người nghe dễ nhận ra rủi ro trong chính quy trình của mình và có thể chuyển ngay kiến thức thành checklist, SOP hoặc hồ sơ nội bộ.

Đại biểu doanh nghiệp, hợp tác xã trao đổi trực tiếp với báo cáo viên về những vướng mắc trong quá trình áp dụng. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.
Hội nghị cho thấy một mô hình phối hợp thiết thực giữa cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Cơ quan quản lý nắm sát yêu cầu chính sách, thực tiễn địa phương và nhóm đối tượng cần hỗ trợ; Hội đóng góp mạng lưới chuyên gia, kinh nghiệm về tiêu chuẩn hóa, mã số mã vạch, truy xuất nguồn gốc và triển khai tại doanh nghiệp. Khi hai nguồn lực này được kết nối, hoạt động phổ biến pháp luật có điều kiện đi sâu hơn vào năng lực thực hành.
Theo dự kiến thời gian tới, hội nghị tiếp tục được tổ chức tại Vĩnh Phúc và Hòa Bình. Đây là cơ sở thuận lợi để hình thành một chuỗi hỗ trợ liên tục: tuyên truyền - hướng dẫn - tư vấn - kết nối giải pháp - rà soát tuân thủ - hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã triển khai truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa dữ liệu sản phẩm.

Sự tham gia và trao đổi tích cực của đại biểu là cơ sở để hoạt động tuyên truyền pháp luật gắn sát hơn với nhu cầu thực tế của cơ sở. Ảnh: Hội Mã số Mã vạch Việt Nam.









