Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/02/2006 01:30 (GMT+7)

Bối cảnh xã hội Nam kỳ trước khi đạo Cao Đài ra đời

Theo Werner, những thập niên đầu thế kỷ 20, trước khi đạo Cao Đài ra đời, xã hội Nam Kỳ đang có một khoảng trống lớn về hệ tư tưởng: “Đạo Phật và Khổng suy thoái, để lại một khoảng trống văn hoá thuận lợi cho việc sáng lập các giáo thuyết mới nhắm vào mục đích khôi phục nền văn hoá Việt Nam”.(tr. 56)

Khoảng trống văn hoá đó là hậu quả của đất nước bị thực dân Pháp xâm chiếm, biến Nam Kỳ thành thuộc địa. Werner lý giải : “… sau khi Pháp cướp nước, đạo Khổng và Phật đã suy thoái. Các thầy tu có học thức của Phật và Lão thực tế đã không có mặt ở Nam Kỳ trong những năm 1920. Mặc dù vẫn còn là căn bản cho đạo đức gia đình trong những thập niên 1920 và 1930, nhưng đạo Khổng không còn sức mạnh là một học thuyết chính trị và xã hội.”(tr. 13)

Không ít Phật tử, đạo sĩ ở Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 đã không thoả mãn với tình trạng trống vắng tư tưởng, đạo pháp suy vi. Vì thế Werner cho rằng: “Quả thật, trong một mức độ nào đó đạo Cao Đài có thể được coi là một nỗ lực nhằm trả lại sinh lực cho đạo Phật – các thầy tu đứng đầu trong đạo Phật, Lão và các chi Minh (Minh sư, Minh đường…) đã quy tụ về đạo Cao Đài khi đạo này mới được thành lập. Trước khi các thánh thất được xây dựng, những người khai đạo Cao Đài cũng dùng các chùa Phật để hành lễ khắp cả Nam Kỳ, và một số các hoà thượng chủ chùa ấy đã theo đạo Cao Đài. Trong các vùng ảnh hưởng của đạo Cao Đài, người ta biết rằng đông đảo phật tử chùa ấy đã nhập môn tập thể theo Cao Đài”(tr. 13)

Tín đồ Cao Đài đông đảo khắp cả Nam Kỳlà có thật. Werner viết: “Đạo Cao Đài được thành lập ở Sài Gòn năm 1925 (…). Không lâu sau khi thành lập, tôn giáo mới này đã có được đông đảo tín đồ ở khắp cả Nam Kỳ. Vào khoảng năm 1930, có từ năm trăm ngàn tới một triệu nông dân theo Đạo, trong lúc tổng số dân là bốn tới bốn triệu rưỡi.” (tr. 4) “Đạo Cao Đài là phong trào quần chúng rộng lớn xuất hiện đầu tiên ở Nam Kỳ…”(tr. 15)

Về nguồn gốc số liệu trên, Werner viết: “Số ước lượng tín đồ Cao Đài do Thống đốc Nam Kỳ cho biết, trong một báo cáo gởi Toàn quyền Đông Dương ngày 14.12.1934. Hồ sơ riêng của Thống đốc Pagès.”(tr. 72, chú thích 1 cho Chương I)

Werner cho rằng: “Việc dân chúng nhập môn Cao Đài ở quy mô lớn rất có thể liên quan tới vấn đề to tát hơn là sự thay đổi hệ tư tưởng.” (tr. 11) “Hệ tư tưởng Cao Đài hiển nhiên là một yếu tố quan trọng để Đạo thu hút mau lẹ tín đồ.”(tr. 11)

Do đâu hệ tư tưởng Cao Đàicó được sự thu hút đó? Theo Werner, “Về mặt tổ chức, dù đạo Cao Đài đánh dấu một sự thoát ly khỏi tập quán tu hành của Việt Nam khi xưa, hệ tư tưởng Cao Đài đã rút tỉa ra rất nhiều từ truyền thống và tín ngưỡng Tam giáo rất phổ biến trong xã hội Việt Nam nói chung.”(tr. 8)

“Hệ tư tưởng Cao Đài hiển nhiên là một yếu tố quan trọng trong sự xuất hiện của tôn giáo này. (…) Đạo Cao Đài có được một điều gì đó dành cho mọi người. Sự khéo léo tổng hợp truyền thống Tam giáo và sự diễn giải minh bạch, chính xác truyền thống Tam giáo không những tạo ra sức hút văn hoá mãnh liệt mà còn lôi cuốn được phong trào kháng (Pháp) gắn liền với truyền thống này và hãy vẫn còn sinh lực. (…) Nền cai trị của Pháp nghèo nàn về ý thức hệ, cùng với hoàn cảnh kinh tế và xã hội tuyệt vọng, đã tạo ra một môi trường văn hoá thuận lợi cho đạo Cao Đài.”(tr. 56)

Ngoài Tam giáo, đạo Cao Đài còn thờ Trời, và giáo chủ Cao Đài là Thượng đế. Nhưng Thượng đế trong Cao Đài có khác gì quan niệm về Thượng đế theo truyền thống của tín ngưỡng Á Đông? Theo Werner, “Việc thờ kính các đấng thiêng liêng trong đạo Cao Đài phản ánh các đức tin và quan niệm của quần chúng, ngoại trừ việc tôn thờ đức Giáo chủ. Đạo Cao Đài có quan niệm mới mẻ về Thượng đế. Mặc dù đức Cao Đài được coi là Ngọc Hoàng Thượng đế, một đấng quen thuộc trong truyền thống dân gian Việt Nam, nhưng vai trò và vị trí của Thượng đế đã đổi khác trong tín ngưỡng Cao Đài. Thượng đế được tôn lên ở vị trí trung tâm của Đạo và tín đồ thường quen gọi là đức Chí tôn (…). Thượng đế không được coi là một đấng thiêng liêng trong số các đấng thiêng liêng, mà đúng hơn Ngài được coi là hình ảnh một người Cha quyền uy và thấy hết tất cả. Vai trò của Thượng đế trong đạo Cao Đài khác hẳn tập quán tín ngưỡng của người Việt Nam trước kia vì lẽ Ngài có được tính toàn tri, toàn năng. Điều này có ý nghĩa tác động tới hành vi của tín đồ Cao Đài vì họ sùng kính tôn thờ Trời với tri thức rằngTrời có ở mọi lúc, mọi nơi.” (tr. 9)

Cùng lúc với đà phát triển nhanh số tín đồ ở Nam Kỳ, đạo Cao Đài cũng là một tôn giáo được tổ chức tốt và thành côngWerner đánh giá: “[Đạo Cao Đài là] một phong trào nông dân lớn nhất Việt Nam trong thời Pháp thuộc. Xuất hiện khoảng năm 1925 ở miền Nam Việt Nam (Nam Kỳ thuộc Pháp), đạo Cao Đài (cho tới những năm 1950) đã thu hút tín đồ nhiều hơn bất kỳ các nhóm nông dân nào khác ở miền Nam. (…) đạo Cao Đài đã có được ảnh hưởng đáng kể đối với nền chính trị miền Nam trong hơn nửa thế kỷ. Thực vậy, trong số ba phong trào quần chúng lớn ở miền Nam thời Pháp thuộc, đạo Cao Đài được tổ chức tốt nhất và thành công nhất.”(tr. 1)

Tính tổ chức của đạo Cao Đài thể hiện qua Hội thánh Cao Đài. Werner lập luận: “Hội thánh Cao Đài cũng được tổ chức quy củ, khác hẳn với cách tu hành đang phổ biến ở Việt Nam lúc bấy giờ. Dù rằng ở miền Nam đã có các giáo phái nhỏ thực hành bí giáo huyền môn và sử dụng đồng tử, những đạo giáo ấy đã không cho thấy mức độ tổ chức ngang tầm với đạo Cao Đài, cũng như không có được đông đảo tín đồ như đạo Cao Đài. Mỗi cấp chức sắc Cao Đài đều có được một chức năng nhiệm vụ riêng biệt và được quy định minh bạch, mà từng phương diện của chức năng nhiệm vụ ấy đều có một ý nghĩa biểu trưng.” (tr. 7)

“Đạo Cao Đài có thể thu hút đông đảo quần chúng đích xác vì sự tổ chức vững vàng của Đạo. Hơn nữa, cách tổ chức hàng giáo phẩm chức sắc của Đạo củng cố cho Đạo vững mạnh, mà đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đạo Cao Đài tiếp tục hiện hữu ngày nay.”(tr. 63)

Có thể bà tiến sĩ Werner chưa minh hoạ đầy đủ về mối quan hệ giữa bối cảnh xã hội Nam Kỳ đầu thế kỷ 20 với sự ra đời và phát triển mau lẹ của đạo Cao Đài thời bấy giờ. Tuy nhiên, những ý kiến trên đây của bà, trong một chừng mức nhất định, vẫn có giá trị tham khảo để nghiên cứu sự ra đời một nền tôn giáo bản địa Việt Nam.

-----------
(1) Werner còn là tác giả nhiều bài báo về Việt Nam, và đã cùng với David G. Marr chủ biên quyển Tradition and Revolution in Viet Nam (Truyền thống và cách mạng ở Việt Nam)…

Nguồn: Xưa và Nay, số 81B tháng 11 năm 2000

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.