Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 14/09/2009 23:01 (GMT+7)

Biểu tượng “khuôn mặt” trong thơ Văn Cao

Dưới cái nhìn của tín hiệu học, biểu tượng bao giờ cũng bao gồm hai mặt, mặt biểu trưng và mặt được biểu trưng, có mối quan hệ nội tại với nhau. Mặt được biểu trưng bao giờ cũng được liên tưởng từ một đặc điểm nào đó của mặt biểu trưng. Hơn nữa, sự liên tưởng ấy không tuân theo tỷ lệ 1:1, tức là từ một cái biểu trưng có thể suy ra được nhiều cái được biểu trưng khác nhau. Đây chính là tính đa trị vốn tồn tại trong mỗi biểu tượng. Nhờ tính chất này, biểu tượng mở ra rất nhiều hướng nghĩa cho người cảm nhận. Mỗi người, tùy theo vốn văn hóa và hiểu biết khác nhau có thể giải mã một cách khác nhau.

Văn Cao là một nghệ sĩ đa tài. Ngoài âm nhạc, ông còn có những tìm tòi mới mẻ trong thơ ca. Một trong những sáng tạo cần được ghi nhận của ông là xây dựng được những biểu tượng đa nghĩa trong thơ. Tìm hiểu những biểu tượng này, có thể thấy được mối quan hệ giữa văn hóa, ngôn ngữ với tư duy nghệ thuật riêng của nhà thơ. Trong khuôn khổ của một bài báo, chúng tôi chỉ xin được tìm hiểu biểu tượng “khuôn mặt” trong thơ Văn Cao.

2. Sự thể hiện biểu tượng “khuôn mặt” trong thơ Văn Cao

2.1. “Khuôn mặt” – một biểu tượng văn hóa

Mặt là phần sống động, là nơi tập trung của các trung khu thần kinh, điều hành cả cơ thể. Xuất phát từ đó mà trong vốn văn hóa chung của nhân loại, mặt thường được quan niệm là bộ phận đại diện cho cả cơ thể con người. Trong tiếng Anh, người ta dùng cụm từ “ face to face” (mặt đối mặt) để nói về sự gặp gỡ, đối diện của hai người. Trong tiếng Việt cũng xảy ra trường hợp tương tự: “ Đôi ta đã trót lời nguyền, Chớ xa cách mặt mà quên mảng lòng” (ca dao).

Khuôn mặt là phần phô ra của cơ thể, ít được che đậy bởi trang phục, ta dễ dàng để cho người khác nhìn thấy. Vì thế, khuôn mặt là biểu tượng của cái “ tôi” sâu kín trong mỗi con người đã bị bóc trần ra một phần. Nét nghĩa này ăn sâu vào ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Người Việt thường “ nhìn mặt mà bắt hình dong”, nhìn khuôn mặt mà đoán tính cách của người mang nó. Khuôn mặt đầy đặn, tròn trĩnh thường là người phúc hậu: “ Mặt chữ điền quan rưỡi cũng mua” (Tục ngữ). Nam nhi quân tử, đầu đội trời, chân đạp đất phải có “ râu hùm, hàm én, mày ngài”. Ở một số nước, người phụ nữ buộc phải che mặt khi ra đường, phải chăng là để giấu kín đi “cái tôi” của mình? Nghệ thuật thường lấy con người làm đối tượng phản ánh, và trong con người, rất nhiều nghệ sĩ tìm đến khuôn mặt để thể hiện tính cách, số phận của nhân vật. Thúy Vân mang “ khuôn trăng đầy đặn” dự báo về một số phận êm đềm giữa cuộc đời. Khuôn mặt đầy bí hiểm của Monalisa trong tranh của Leonardo de Vinci mở ra rất nhiều hướng cắt nghĩa suy nghĩ về tâm trạng của nàng cho người thưởng thức… Vì vậy, khuôn mặt là bộ phận thể hiện rất rõ bản chất của con người. Khuôn mặt không những nói lên bản chất của người, mà “khuôn mặt” còn mang nét nghĩa rộng hơn, khái quát hơn, nói về diện mạo của các sự vật, hiện tượng khác: bộ mặt của xã hội, bộ mặt của cuộc sống…

2.2. “Khuôn mặt” – một biểu tượng trong thơ Văn Cao

Trong thơ Văn Cao, biểu tượng “khuôn mặt” vừa tiếp thu một số ý nghĩa trong văn hóa chung, vừa thể hiện những sáng tạo riêng của người nghệ sĩ. Khuôn mặt xuất hiện với tần số 15 lần trong những bài thơ ngắn của Văn Cao (không tính đến trường ca Những người trên cửa biển) và bao gồm những nét nghĩa biểu trưng sau:

Ý nghĩa biểu trưng thứ nhất: khuôn mặt hiện diện trong sự bình lặng, trong sáng – vẻ đẹp đã kết tinh thành những giá trị lớn lao, đã hóa thành sự trường tồn, vĩnh cửu:

Giữa những ngày dằng dặc,

Chỉ còn khuôn mặt em,

Sáng trong và bình lặng

(Khuôn mặt em)

Trên đường đi,

Khuôn mặt em làm giếng,

Để anh tìm làm đáy ngọc châu

(Khuôn mặt em)

Ý nghĩa này còn tiếp nối được ý nghĩa biểu trưng vốn có của “khuôn mặt” trong kho văn hóa của nhân loại: hiện thân của vẻ đẹp tâm hồn. Tuy nhiên, ở đây, Văn Cao đi sâu vào khai thác sự hiền hậu, vẻ trong trẻo của người phụ nữ - những phẩm chất mà ông luôn hướng tới như một điểm tựa tinh thần trong cuộc đời. Giữa “ những ngày dằng dặc” gian khổ, khó khăn, giữa không gian ác liệt của con đường hành quân, hình ản khuôn mặt người con gái lại hiện lên trong tâm tưởng để xoa dịu đi những nhọc nhằn trong tâm hồn nhà thơ. Biểu tượng giếng trong tâm thức chung của nhân loại hàm chứa ý nghĩa biểu trưng cho nguồn sống. Khi so sánh khuôn mặt em với giếng, nhà thơ tăng thêm một nét nghĩa biểu tượng nữa cho biểu tượng “khuôn mặt”: vẻ đẹp sáng trong của người phụ nữ là nguồn sống tinh thần cho tác giả.

Văn Cao là người nghệ sĩ thầm lặng nhưng dẻo dai đi tìm những thể nghiệm mới cho nghệ thuật. Trong thơ, “khuôn mặt” không chỉ đơn thuần chứa đựng vẻ đẹp hình hài của con người, mà luôn toát lên sự ám ảnh về những suy tư, trăn trở trong nội tâm. Đây cũng là nét nghĩa biểu trưng rút ra từ biểu tượng “khuôn mặt” trong kho tàng văn hóa chung của toàn nhân loại.

Bỗng nhiên

Bóng người ấy che mất

Nửa mặt tôi

Nửa mặt của tôi

Của tôi nửa mặt trắng

Miệng tôi nửa miệng đắng

                       (Nguyệt thực)

Bóng tối và ánh sáng, thiện và các, yêu và ghét…, vốn là những cặp trái ngược và mâu thuẫn đan xen tồn tại trong một con người. Bằng việc xẻ đôi “khuôn mặt” ra thành hai phần trắng – đen, một nửa hiện diện và nửa kia bị khuất lấp, nửa này của tôi và nửa kia của “ người ấy”, Văn Cao đã tái hiện lại sự trộn lẫn phức tạp mà đau đớn ấy. Tho ông lách vào giữa đường ranh giới mong manh của ý chí và bản năng rất người để vụt lên những suy tư. Rõ ràng biểu tượng khuôn mặt là nơi gửi gắm những trăn trở đầy tính nhân sinh của nhà thơ.

Không chỉ trong thơ, mà cả trong tranh của Văn Cao, khuôn mặt cũng biểu trưng cho vẻ đẹp thuần khiết nữ tính, và chứa đựng những trăn trở của nghệ sĩ về sự phức tạp và chiều sâu suy tư thăm thẳm của con người. Thơ và họa, hai ngành nghệ thuật thuộc về hai lĩnh vực khác nhau, nhưng có độ tương đồng rất lớn về ý nghĩa biểu trưng trong biểu tượng này.

Tuy nhiên, ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng “khuôn mặt” trong họa chỉ bao gồm vẻ đẹp tâm hồn và bản chất phức tạp trong một con người – những lớp ý nghĩa cũng tồn tại trong thơ. Trong khi ở thơ, chúng ta còn có thể bắt gặp các nét nghĩa khác nữa mà trong họa tác giả chưa thể hiện.

Khuôn mặt là phần sống động của cơ thể. Nhìn vào khuôn mặt có thể nhận biết được một phần “cái tôi” của mỗi người. Văn Cao đã khai thác sâu thêm nét nghĩa văn hóa đó, để phản ánh những suy tư của bản thân về số phận cũng như sự sống mòn mỏi của kiếp người:

Những bộ mặt người nghèo khổ đêm đêm đến uống rượu

và nói to hơn thường ngày họ sống

Không không không phải như vậy tôi không hề nhìn thấy ánh đèn

của quán rượu đêm những bộ mặt người như đất

                                                           (Đêm quán)

Trong không gian quán rượu tàn tạ là sự hiện diện của những kiếp người nghèo khổ và tăm tối. “ Đêm quán” đã trở thành một “ngữ cảnh tu từ” để tạo lên biểu tượng “ những bộ mặt người như đất” trong bài thơ này. Sự tương đồng, cộng hưởng giữa ánh vàng vọt, leo lét của ngọn đèn với màu trắng bạc của mái tóc người chủ quán, với những nét hằn khắc khổ trên khuôn mặt, khách đến uống rượu, đã tạo ra dư vị cay đắng của số phận. Ở đây, có sự phát triển của biểu tượng khuôn mặt, từ “ bộ mặt người nghèo khổ” đến “ bộ mặt người như đất”. Con người luẩn quẩn trong vòng tròn của sự nghèo khổ, chỉ biết lao vào rượu để giải sầu. Số phận của họ đi từ nghèo đói về vật chất đến nghèo đói và mòn mỏi về tinh thần, thậm chí tê liệt cả cảm giác. Người Việt Nam thường có câu “ hiền như đất”, nhưng ở đây, Văn Cao không chủ tâm khắc họa tính cách hiền lành mà muốn xoáy sâu vào sự ngơ ngác đến tội nghiệp của con người trước cuộc đời.

Tiếp nối mạch cảm hứng ấy, nhà thơ đã đưa thêm một nét nghĩa biểu trưng cho “khuôn mặt”: thể hiện cuộc sống “mòn”, sống mà như đã chết của con người:

Một bàn tay giơ lên không biết để làm gì

Hái một bông hoa hay hái một ngôi sao

Một bàn tay đưa vào

Khoảng trống

Cả nụ cười

Khi buồn

Làm thành mặt người đang sống

Đêm và ngày mặt trời hay mặt trăng

Đã ngủ từ lâu trong im lặng

Chỉ còn neo lại một cuộc sống trong anh.

                                   (Cuộc sống trong anh)

“Mặt người” đang sống được tạo nên từ những gì? Từ nỗi buồn, từ bàn tay đưa vào khoảng trống? Bàn tay đưa vào khoảng trống thực ra cũng là một biểu tượng biểu thị sự vô phương hướng của cuộc đời. Thậm chí, ý thức về thời gian, về “ đêm và ngày”, “ mặt trời hay mặt trăng”, về những đổi thay, chuyển biến của đời sống cũng tê liệt đến chết mòn trong anh. “Khuôn mặt” ở đây không còn là vẻ ngoài nữa mà đã biểu trưng cho một trạng thái sống – trạng thái tinh thần của con người. Với biểu tượng “khuôn mặt”, Văn Cao đã góp một tiếng nói, một dáng hình về sự “sống mòn” của con người vào trong văn học. Đây là những triết lý, tư tưởng mà Văn Cao gửi gắm qua biểu tượng “khuôn mặt” trong thơ, những triết lý gần như vắng bóng trong lĩnh vực họa.

3. Như đã nói, biểu tượng mang tính đa nghĩa, từ một mặt biểu trưng có thể suy ra hơn một mặt được biểu trưng. Biểu tượng “khuôn mặt” trong thơ Văn Cao dồn nén rất nhiều tầng lớp ý nghĩa biểu trưng khác nhau. Những tầng nghĩa đó có mối liên hệ mật thiết với mẫu gốc, văn hóa và ngôn ngữ. Vì vậy, một trong những phương pháp khoa học để giải mã một biểu tượng là đi từ những kiến thức nền ấy. Theo phương pháp này, độc giả vừa thấy được sự tiếp thu vừa tìm ra được những sáng tạo riêng của tác giả qua mỗi biểu tượng. Bài viết chính là một minh chứng cụ thể cho cách thức, phương pháp giải mã biểu tượng này, hi vọng tạo ra được một cái nhìn, hay một cách thức cụ thể đối với bạn đọc trong việc tìm hiểu tác phẩm cũng như con người của Văn Cao.

_________________

Thư mục tham khảo

1. Văn Cao (1994), Tuyển tập thơ Văn Cao, Nxb Văn học, H.

2. Văn Cao (1957), Mấy ý nghĩ về thơ, TC Văn nghệ, tháng 7, 1957.

3. Đỗ Hữu Châu (1990), Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ và các sự kiện văn học, Tc Ngôn ngữ, số 2, 1990.

4. J. Chevalier, A. Gheerbant (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Nxb Đà Nẵng, Trường viết văn Nguyễn Du, Đà Nẵng.

5. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2007), Bài giảng chuyên đề về ngôn ngữ nghệ thuật, Đại học Sư phạm Hà Nội.

6. Nguyễn Thị Ngân Hoa (2005), Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam , Luận án tiến sĩ Ngữ văn, ĐH Sư phạm Hà Nội.

7. Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa (2003), Phân tích phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, Nxb Đại học Sư phạm, H.

8. Bùi Công Hùng (1980), Vài nét về ngôn ngữ thơ, TC văn học, số 2, 1980.

9. Đinh Trọng Lạc (1994), Phong cách học văn bản, Nxb Giáo dục, H.

10. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2004), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, H.

11. Nguyễn Lai (1996), Tìm hiểu sự chuyển hóa từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng, TC Ngôn ngữ, số 3, 1996.

12. Lữ Huy Nguyên (1996), Văn Cao cuộc đời, tác phẩm, Nxb Văn học, H.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.