Biết thêm về cây Nổ
Ở Việt Nam , cây mọc nhiều nơi trên bờ bãi ven đường chỗ dải nắng từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Cây dễ tái sinh bằng chồi và nơi đất khô cằn thoái hóa, không cạnh tranh với các cây nông nghiệp khác.
Trong dân gian, rễ, vỏ và ruột dùng làm thuốc phổ biến hơn lá, thu hái cả năm nhưng vào mùa thu tốt hơn. Được dùng như sau:
- Vỏ thân, vỏ rễ thái nhỏ để tươi hoặc nấu lấy nước duốc cá.
- Chữa sốt nóng, khá nước: vỏ rễ 6g, sắc với 200ml nước còn 50ml uống trong ngày.
- Chữa sỏi thận, sỏi bàng quang: rễ cây Nổ 2kg, rễ củ dây Thiên lý 1kg, hấp cách thủy 2 rễ này cho chín, phơi khô tán bột. Phối hợp với lá Hà thủ ô và râu Ngô phơi âm can tán bột. Trộn 2 loại bột luyện mật ong thành viên 15g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3 viên với nước chanh đường.
- Chữa bỏng: lá cây Nổ sắc lấy nước để đắp.
- Chữa vết thương ghẻ lở nhiễm khuẩn tụ cầu gây mỏ chóng liền sẹo. Gỗ thân cây Nổ đốt thành than, tán bột, rắc lên vết thương.
- Chữa đau răng, viêm lợi: rễ cây Nổ sắc nước đặc ngậm rồi nhổ đi không nuốt.
Theo kinh nghiệm dân gian, cây Nổ dùng nấu nước lá, cành và rễ để tắm cho người ghẻ lở, thậm chí người phong (hủi). Rễ thái mỏng phơi hay sấy khô hoặc sao vàng sắc uống chữa sốt, sốt rét, chóng mặt, chân tay rung rẩy. Dịch chiết cành và lá cây Bỏng nổ có tác dụng trừ sâu, sát trùng vết thương khi phối hợp với thuốc lá.
Liều thường dùng theo kinh nghiệm dân gian là 6 - 12g vỏ rễ.
Thành phần hóa học: cây Nổ chứa nhiều alcaloid, chủ yếu là chất securinin. Ngoài ra còn có saponin và cumarin. Cây Bỏng nổ mọc hoang dại ở Hà Nội có hàm lượng alcaloid trong lá là 0,76 - 2,01, trong vỏ thân là 0,96 - 1,12%, là chất rất độc, nên sử dụng phải hết sức thận trọng. Điều đáng chú ý liều độc và liều an toàn rất gần nhau, vì vậy không thể dùng tùy tiện.
Ngoài ra, cây Nổ còn có tác dụng kháng khuẩn tương đối mạnh đối với một số vi khuẩn như Bacillus pumilus, B. subtilis, B. cereus, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, Proteus mirabilis, Shigella flexneri.








