Bệnh lợn “tai xanh” và một số phương pháp phòng, chống dịch
Sơ lược về bệnh “lợn tai xanh”
Tính từ năm 2005 trở lại đây, 25 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục (trừ châu Úc và New Zealand) trên thế giới đã báo cáo cho Tổ chức Thú y thế giới (OIE) khẳng định phát hiện có PRRS lưu hành. Dịch bệnh này gây tổn thất hàng trăm triệu đô la ở các nước có ngành chăn nuôi phát triển như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Anh, Pháp, Đức… Ở Việt Nam, dịch “lợn tai xanh” bùng nổ từ 3/2007 với tổng lợn mắc bệnh cả 2 đợt khoảng gần 70 nghìn con và đầu năm 2008 lại tiếp tục diễn ra với mức thiệt hại lớn hơn năm trước (khoảng hơn 200 nghìn con mắc bệnh).
Các triệu chứng thường gặp ở lợn mắc bệnh:
- Lợn nái: Sốt cao (40 0C), biếng ăn, sẩy thai ở giai đoạn cuối hoặc đẻ non, động dục không bình thường, thai chết lưu hoặc chết yểu, lợn mới sinh rất yếu, tai xanh nhạt. Lười uống nước, mất sữa, viêm vú, phần da mỏng biến màu (màu hồng), ho và viêm phổi nặng. Ở thể cấp tính tai chuyển màu xanh.
- Lợn con: Sốt cao (40 0C), gầy yếu, khó thở, mắt có dử màu nâu, phần da mỏng như da bụng, gần mang tai thường có màu hồng. Đôi khi da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, ủ rũ, run rẩy.
- Lợn choai, lợn thịt: Sốt cao (40 0C), biếng ăn, ủ rũ, ho, thở khó. Những phần da mỏng như phần da gần tai, da bụng lúc đầu màu hồng nhạt, dần chuyển màu hồng thẫm – tím nhạt.
- Lợn đực giống: Sốt cao (40 0C), bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít.
Virus PRRS có thể phát tán, lây lan qua các hình thức:
- Trực tiếp: Tiếp xúc với lợn ốm, lợn mang trùng, theo gió (có thể đi xa tới 3km), phân, nước tiểu, bụi, bọt nước, thụ tinh nhân tạo, do lợn rừng hoặc một số loài chim hoang.
- Gián tiếp: Dụng cụ chăn nuôi, dụng cụ bảo hộ lao động, các phương tiện vận chuyển… bị nhiễm trùng mà vẫn sử dụng trong trại lợn.
Một số phương pháp phòng chống dịch bệnh “lợn tai xanh”
Chăn nuôi lợn cũng như chăn nuôi các vật nuôi khác ở nước ta còn phổ biến tình trạng phân tán, quy mô nhỏ nên việc phòng chống dịch còn gặp nhiều khó khăn. Để phòng tận gốc dịch bệnh PRRS thì cần phải chuyển đổi phương thức chăn nuôi sang chăn nuôi công nghiệp. Con giống phải có lý lịch rõ ràng, khoẻ mạnh. Người chăn nuôi phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, đảm bảo môi trường trong chăn nuôi, bảo vệ và tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi bằng chuồng trại hợp lý và phương thức chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp…
Việc sử dụng vacxin chỉ nên xem như là một trong các công cụ phòng bệnh, chứ không phải là yếu tố quyết định thành công.
Để phòng dịch hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp phòng chống như sau:
- Tuyên truyền nhiều kênh truyền tin khác nhau để người chăn nuôi hiểu đúng, đầy đủ về mức nguy hiểm, các phương pháp phòng chống… và các thông tin liên quan khác về loại bệnh này.
- Tăng cường giám sát đến từng hộ chăn nuôi lợn để phát hiện kịp thời lợn ốm. Nếu lợn có triệu chứng, bệnh tích của lợn tai xanh thì tiêu huỷ ngay mà không chờ kết quả xét nghiệm. Đồng thời lấy mẫu lợn bệnh gửi xét nghiệm trước khi tiêu huỷ và bao vây ổ dịch.
- Thiết lập các trạm, chốt tại các đầu mối giao thông để kiểm soát vận chuyển lợn và các loại sản phẩm từ lợn.
- Tổ chức hệ thống giám sát dịch bệnh với sự tham gia của chính quyền cấp xã, các tổ chức đoàn thể và các ngành chức năng liên quan phối hợp với ngành nông nghiệp để theo dõi diễn biến dịch bệnh trên đàn lợn địa phương đến từng hộ chăn nuôi.
- Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh phòng dịch, tiêm đầy đủ các loại vacxin để tránh bội nhiễm, nhiễm trùng thứ phát do virus PRRS có khả năng làm suy giảm trầm trọng hễ thống miễn dịch của lợn.
- Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để nâng cao sức đề kháng cho lợn.
Các biện pháp chống dịch hiện có thể thống kê như sau:
- Khai báo lợn ốm, trên cơ sở xét nghiệm thì cơ quan thú y địa phương đề xuất với chính quyền địa phương công bố dịch.
- Khoanh vùng ổ dịch với phạm vi bán kính là 3km kể từ tâm ổ dịch.
- Lập các chốt, trạm kiểm dịch hoạt động 24/24h.
- Cấm vận chuyển, buôn bán lợn và các sản phẩm từ lợn ra, vào vùng dịch khi chưa có công bố hết dịch.
- Lập biển báo vùng dịch, hạn chế người, phương tiện ra, vào vùng dịch.
- Tăng cường giám sát đến từng hộ chăn nuôi.
- Tiêu huỷ lợn ốm, chết tuân thủ theo đúng các hướng dẫn của cơ quan thú y.
- Tổng vệ sinh tiêu độc khử trùng 2 – 3 lần/tuần trên toàn vùng dịch.
- Tuyên truyền cho người dân thực hiện “3 không”: không giấu lợn bệnh, không bán chạy lợn bệnh, không vứt xác lợn bừa bãi.
- Hướng dẫn và hỗ trợ nông dân những điều kiện để tăng cường đề kháng cho lợn trong vùng dịch.








