Bảo tồn di tích như thế nào?
Bảo tồn di tích tức là giữ lại những di tích, tất nhiên rồi. Nhưng giữ gìn di tích lại là một vấn đề rất khó khăn phức tạp. Bởi giữ gìn di tích không có nghĩa là di tích có thế nào thì giữ nguyên như thế. Điều ấy chỉ đúng với những di tích còn nguyên vẹn và vẫn đang có độ bền chắc cao. Những di tích như thế rất hiếm có trong thực tế. Còn phần lớn các di tích đều đã bị thời gian làm cho xuống cấp. Thậm chí có những di tích đã đổ nát.
Vậy bảo tồn những di tích đã xuống cấp như thế nào? Đây thực ra là một vấn đề đặt ra đối với cả thế giới chứ đâu phải chỉ ở riêng Việt Nam . Nhưng thế giới người ta đã rút ra nhiều bài học rồi, có nhiều kinh nghiệm rồi. Nhiều di sản văn hóa thế giới đã được bảo tồn thành công, được nhiều người công nhận, khâm phục. Thời đại ngày nay, cả thế giới mở cửa, thông tin bùng nổ thì những kinh nghiệm từ một nước sẽ trở thành kinh nghiệm cho tất cả các nước. Điều lạ là những bài học mà thế giới đã rút ra lâu rồi mà sao ứng dụng trong công tác bảo tồn di tích ở nước ta lại chậm chễ, khó khăn đến như thế?
Khỏi phải nói, những đình chùa đền miếu ở khắp các làng quê được bảo tồn một cách tự phát. Thôi thì sửa chữa, quét màu, sơn son thiếp vàng lung tung cả. Làm cho người đến chiêm ngưỡng tưởng là vừa mới dựng xong. Do dân trí thấp, có nơi nhiều người được phân công chịu trách nhiệm tu bổ sửa chữa lại coi là càng làm cho hiện đại khang trang thì di tích của địa phương mình càng oách. Thế là di tích trở thành nửa cổ nửa kim. Những di tích thâm nghiêm trước đây đã biến đổi thành những di tích lòe loẹt. Nói tóm lại là di tích đã bị phá hỏng, chỉ còn lại là sự phô phang, khoe mẽ.
Cách đây hai năm, tôi cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa và Giáo sư Trần Đăng Suyền về thăm ngôi nhà của nhà thơ Nguyễn Khuyến ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam . Mọi người đều biết Nguyễn Khuyến là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam , là một thi hào nổi tiếng của dân tộc.
Nhắc đến Nguyễn Khuyến, mọi người yêu văn chương đều nhớ đến "ngõ trúc quanh co khách vắng teo", "mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái", "cá đâu đớp động dưới chân bèo"... Vậy mà, chúng tôi đến nhà của Nguyễn Khuyến đã hết sức ngỡ ngàng, không thể nào nhận ra đây là ngôi nhà mà thi nhân đã về ở ẩn những năm tháng từ quan cuối đời và viết nên những bài thơ bất hủ để lại cho muôn đời.
"Ngõ trúc quanh co" thì vẫn còn. Nhưng tường xây đã thay cho những dậu hoa giăng thuở nghèo. Đặc biệt, không thấy ao bèo mà thi nhân xưa đã "tựa gối nâng cần" đâu cả, mà chỉ thấy một ao hoa súng hồng tươi (không phải là hoa súng tím ở làng quê mà là giống súng cảnh từ đâu mang về)... Làm cho cả ba chúng tôi đều hết sức ngậm ngùi. Tiếc rằng công trình tu sửa di tích này lại có sự đóng góp ngân sách của một tổ chức văn hóa quốc tế. Dẫu biết rằng, tổ chức văn hóa quốc tế chỉ đứng ra đầu tư tu bổ, còn vẫn là người Việt Nam chúng ta làm thôi. Trách nhiệm ấy tất nhiên thuộc về ngành văn hóa và chính quyền địa phương. Thật tiếc lắm thay!
Tuy nhiên, việc bảo tồn di tích còn là nâng cao giá trị của di tích ấy. Giữ gìn di tích, điều quan trọng nhất là giữ hồn, giữ cốt. Có thể thêm những chi tiết để củng cố nâng cao hồn cốt ấy. Điều này chúng ta cũng có những bài học quý.
Ai cũng biết ngôi nhà của Bác ở làng Sen là một ngôi nhà gỗ năm gian. Nhưng ngôi nhà ấy vào thơ Tố Hữu đã trở thành "Ba gian nhà trống nồm đưa võng/ Một chiếc giường tre chiếu mỏng manh". Mà ai cũng thấy như thế mới là ngôi nhà thật của Bác. Thế là ngành bảo tàng Nghệ An đã có sáng kiến bố trí thêm một chiếc võng trong một gian nhà của Bác. Chiếc võng đan ấy đã trở thành một điểm nhấn của gian nhà, đã nâng cao chất hiện thực của di tích, làm cho di tích thật hơn và thiêng liêng hơn.
Cũng phải kể thêm rằng, trước cửa ngôi nhà của Bác ở quê nội làng Sen là một vườn đất khá rộng mà đến nay vẫn chỉ trồng khoai lang. Ấy là do ngành bảo tàng Nghệ An đã giữ được hồn của di tích. Bởi năm 1961, khi Bác về thăm quê, mọi người có hỏi Bác là ý Bác muốn trồng loại hoa gì cho đẹp để chúng cháu thực hiện. Bác bảo: "Bác thích hoa khoai lang". Tất nhiên, một người lịch lãm như Bác đã đi khắp thế giới, biết tất cả các loài hoa đẹp. Nhưng lúc đó nước ta còn nghèo, dân ta còn đói, Bác bảo Bác thích hoa khoai lang là ý Người muốn nhắc việc tăng gia sản xuất. Bảo tồn như thế là giữ được cả hồn cốt của di tích.
Mong sao ngành văn hóa nhân rộng được tấm gương của những người làm công tác bảo tàng tỉnh Nghệ An ra khắp nước.








