Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 12/01/2009 15:06 (GMT+7)

Bàn về xuất nhập khẩu than hợp lý

Để thực hiện Chiến lược, Chính phủ giao cho “Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) chịu trách nhiệm chính về phát triển ngành than, cung cấp than trong nước và làm dầu mối phối hợp với các hộ tiêu thụ than lớn thực hiện việc nhập khẩu than cho nhu cầu phát triển KT - XH của đất nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia”.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, vừa qua lãnh đạo TKV đã ra nước ngoài để thương thảo về việc nhập khẩu than. Dư luận rất bức xúc về vấn đề này: Tại sao phải nhập khẩu than trong khi đang xuất khẩu than?

Trong phạm vi bài này sẽ nêu một số ý kiến bàn về tại sao phải nhập khẩu than và vấn đề xuất, nhập khẩu than hợp lý.

1. Một số đặc điểm của than và sản xuất than

a - Than gồm nhiều loại: than mỡ, than antraxit, bán antraxit, than nâu lửa dài, than bitum và á bitum, than bùn. Mỗi loại than có công dụng khác nhau cho sản xuất vào dời sống. Ở nước ta chủ yếu là than antraxit (Quảng Ninh) và than á bitum (Đồng bằng sông Hồng). Ngoài ra còn có một số loại than khác với trữ lượng nhỏ như than nâu lửa dài (ở Na Dương - Lạng Sơn), than mỡ (ở Thái Nguyên, Nghệ An và một số tỉnh vùng Tây Bắc), than bùn (chủ yếu ở Đồng bằng Nam bộ).

b - Ngay loại than antraxit hiện đang khai thác nhiều nhất ở Quảng Ninh cũng có nhiều loại sản phẩm, gồm 5 loại sản phẩm than cục (từ số 1 đến số 5) và 7 loại sản phẩm than cám (từ số 6 đến số 11 và than tiêu chuẩn ngành). Mỗi loại sản phẩm than cũng có mục đích sử dụng khác nhau.

c - Các loại than và sản phẩm than được hình thành trong tự nhiên và chịu ảnh hưởng của công nghệ khai thác, cho nên khi khai thác không thể chỉ khai thác chọn lọc một số loại sản phẩm theo nhu cầu mà phải khai thác toàn bộ các loại sản phẩm than có trong vỉa. Chính vì vậy, tại mỗi giai đoạn nhất định ngoài các loại sản phẩm than theo nhu cầu còn khai thác cả những loại sản phẩm than chưa có nhu cầu sử dụng hoặc có nhưng rất ít.

d - Với trình độ khoa học công nghệ hiện nay có thể chế biến than cho các mục đích sử dụng khác nhau, nhưng khi đó giá thành sản phẩm sẽ tăng lên.

2. Tại sao phải nhập khẩu than trong khi vẫn xuất khẩu than?

a - Nguyên tắc chung là nếu thiếu than hoặc loại sản phẩm than nào đó thì phải nhập khẩu nếu không tìm được nguyên nhiên liệu thay thế.

b – Tuy nhiên trong kinh tế thị trường vẫn có thể vừa xuất khẩu, vừa nhập khẩu than nếu có hiệu quả cao hơn. Xuất và nhập khẩu than đồng thời xảy ra trong các trường hợp sau:

- Xuất loại hoặc sản phẩm than mà trong nước chưa có nhu cầu hoặc có nhưng ít, và nhập khẩu các loại hoặc sản phẩm than trong nước cần nhưng không có hoặc có nhưng ít. Trong trường hợp này để giảm nhập khẩu than cần thiết phải: (1) hoặc là nghiên cứu chế biến các loại than có trong nước phù hợp với mục đích sử dụng của các cơ sở sản xuất; (2) hoặc là các cơ sở sản xuất phải đổi mới công nghệ để có thể sử dụng các loại than sẵn có trong nước.

- Do địa điểm các cơ sở sử dụng than ở xa vùng mỏ nên có thể xuất khẩu than ở phía Bắc và nhập khẩu than cho các cơ sở sử dụng than ở phía Nam nếu điều đó có hiệu quả hơn. Trong trường hợp này để giảm nhập khẩu than thì phải bố trí các cơ sở sản xuất sử dụng than gần vùng than để giảm chi phí vận chuyển so với vận chuyển than từ nước ngoài về.

- Ngoài ra, sẽ nhập khẩu than trong trường hợp than nhập khẩu rẻ hơn than sản xuất trong nước.

Nói chung, việc một nước vừa xuất khẩu than, vừa nhập khẩu than là một điều bình thường trên thế giới. Nhiều nước sản xuất than lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nga… vừa là những nước xuất khẩu than vừa là những nước nhập khẩu than. Năm 2006 Trung Quốc XK 63 và NK 37 triệu tấn; Mỹ XK 45 và NK 33 triệu tấn; Nga XK 92 và NK 26 triệu tấn. Điều quan trọng là cả xuất và nhập khẩu than đều vì mục đích tận dụng các lợi thế so sánh của chúng để đạt hiệu quả cao nhất. Ví dụ, Trung Quốc xuất khẩu than khai thác ở phía Bắc, còn ở phía Nam thì nhập khẩu than của Việt Nam, nhờ thế tiết kiệm được chi phí vận chuyển than từ phía Bắc xuống phía Nam.

3. Tại sao phải xuất khẩu?

Đối với nước ta có mấy nguyên nhân sau đây:

- Do giá bán phần sản lượng than tiêu thụ trong nước thấp hơn giá thành, nhất là than bán cho các hộ sản xuất điện, xi măng, phân bón, giấy; trong khi giá than xuất khẩu có lãi cao nên xuất khẩu than để bù lỗ phần than bán trong nước nhằm đảm bảo cân đối tài chính cho ngành than.

- Để đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH nhằm mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại nhu cầu than của nền kinh tế ngày càng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu than gia tăng đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn để nâng công suất các mỏ cũ và xây dựng các mỏ mới. Do nguồn vốn đầu tư trong nước nói chung và của ngành than nói riêng hạn hẹp, không đủ nên phải xuất khẩu than để tạo vốn đầu tư tăng sản lượng than trong tương lai.

- Ngoài ra, để phát triển các ngành công nghiệp khác như nhiệt điện, khai thác quặng sắt và luyện thép: khai thác, chế biến bauxit và luyện nhôm; khai thác và chế biến các loại khoáng sản khác cũng như các ngành khác trên nền công nghiệp than cũng cần có vốn đầu tư, do đó cũng phải xuất khẩu than để có vốn.

Như vậy, để giảm xuất khẩu than, một trong những vấn đề cốt lõi cần phải giải quyết là thực hiện thị trường hoá giá than. Với giá than trong nước thấp hiện nay trong khi giá than xuất khẩu cao đã và đang gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực, bất cập trong kinh doanh than và đặc biệt là trong khâu sử dụng than (sử dụng lãng phí, không phản ánh đúng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các ngành sử dụng than, làm lợi không công cho nhà đầu tư nước ngoài).

Biện pháp này không đơn thuần chỉ để giảm xuất khẩu than mà đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất để xét trên mọi phương diện: khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên; tạo điều kiện cho ngành than phát triển bền vững nhằm đáp ứng một cách chủ động nhu cầu than ngày càng tăng cao của nền kinh tế; khắc phục các bất cập do giá than thấp gây ra; phát triển kinh doanh đa ngành trên nền sản phẩm than, đồng thời cũng là một công cụ để buộc các ngành sử dụng than tiết kiệm, hiệu quả hơn nhằm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh.

4. Vấn đề kết hợp xuất khẩu than hợp lý

Mục đích của việc kết hợp xuất nhập khẩu than hợp lý là nhằm đảm bảo vừa đáp ứng nhu cầu than của nền kinh tế, vừa đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở tận dụng các lợi thế so sánh của ngành than nước ta cũng như các cơ hội và lợi thế so sánh của thị trường than thế giới. Như vậy, việc xuất nhập khẩu than một cách hợp lý sẽ tuân theo những nguyên tắc sau:

- Chỉ nhập khẩu than khi:

+ Loại than trong nước không có hoặc có nhưng không đủ, hoặc

+ Loại than nhập khẩu có chi phí rất thấp so với chi phí của loại than tương tự sản xuất trong nước.

- Chỉ xuất khẩu than khi:

+ Những loại than mà trong nước chưa hoặc có nhu cầu ít với điều kiện việc chế biến các loại than đó thành loại than phù hợp với nhu cầu sử dụng sẽ có chi phí quá cao so với chi phí than nhập khẩu.

+ Giá FOB của các loại than xuất khẩu cao hơn nhiều so với chi phí của than nhập khẩu cùng loại, vì khi đó việc xuất khẩu than mới có ý nghĩa kinh tế (mang lại lợi nhuận thực xét trên phạm vi nền kinh tế).

+ Chừng nào giá bán than trong nước chưa bù đắp đủ chi phí sản xuất và có lãi ở mức hợp lý để có tích luỹ đầu tư phát triển than cho tương lai.

5. Vấn đề giá than rẻ và xuất khẩu than nhìn từ góc độc phát triển bền vững

Định nghĩa “sự phát triển bền vững” do Uỷ ban Brondtland đưa ra như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiệu tại, nhưng không làm ảnh hưởng tới các thế hệ tương lai trong việc ứng dụng những nhu cầu của họ”. Theo định nghĩa này thì rõ ràng với chính sách giá than trong nước rẻ và xuất khẩu than hiện hành hoàn toàn đi ngược lại với sự phát triển bền vững. Thế hệ chúng ta chỉ biết sử dụng than giá rẻ mà không hề nghĩ tới nhu cầu của thế hệ tương lai. Vì rằng trong giá than rẻ không những không có phần giá trị nào dành cho thế hệ tương lai mà còn gây ra việc sử dụng than lãng phí và phải xuất khẩu than để bù lỗ cho phần than giá rẻ đó, điều này cũng đẩy nhanh sự cạn kiệt tài nguyên than.

Than là loại tài nguyên không thể tái tạo và hữu hạn, do đó sẽ cạn kiệt dần cùng với quá trình khai thác, sử dụng. Cho nên thay vì chỉ biết khai thác và sử dụng thế hệ hiện tại chúng ta phải dành một phần giá trị của than khai thác được hiện nay để tạo ra các năng lực mới cho thế hệ tương lai thay thế nguồn tài nguyên than bị cạn kiệt như cách tiếp cận về sự phát triển bền vững của giáo sư Solow đã chỉ rõ: “có một nguyên tắc hiện nay như một sự chỉ dẫn khái quát và chính xác là khi chúng ta (xã hội chúng ta, đất nước chúng ta hoặc rộng hơn) sử dụng hết một cái gì đó không thể thay thế, dù đó là khoáng sản hay các loài cá, hay một tiện nghi môi trường, sau đó chúng ta cần nghĩ tới việc cung cấp một giá trị tương đương thay thế. Sự thay thế gần đúng này mang tính tương đối. Cái mà chúng ta có thể cung cấp để thay thế là kiến thức hoặc cũng có thể là công nghệ. Đó thậm chí không cần thiết phải là vật chất”.

Theo tinh thần đó cần phải có kế hoạch khai thác, quản lý, sử dụng nói chung, đặC biệt là việc xuất khẩu than một cách hợp lý trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh hiện có của vùng than Quảng Ninh và của thị trường than thế giới, tạo vốn đầu tư để thăm dò, xây dựng các mỏ than mới, phát triển các nhà máy nhiệt điện than, ngành công nghiệp khai thác bô xit - alumin - nhôm, ngành công nghiệp khai thác quặng sắt và luyện thép, ngành công nghiệp hoá than… và đầu tư ra nước ngoài khai thác than, khoáng sản tiếp theo lại khai thác các lợi thế so sánh từ các năng lực sản xuất mới tạo ra này để tạo vốn đầu tư phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng đầy tiềm năng nhưng có điều kiện khai thác vô cùng khó khăn, phức tạp sau giai đoạn 2015 - 2020 và bể than thềm lục địa cũng như các loại năng lượng mới và tái tạo trong tương lai xa. Chỉ có như vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành than và góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trong lâu dài cho các thế hệ tương lai.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đắk Lắk: Đội ngũ trí thức đồng hành cùng báo chí cách mạng
Thông qua các công trình nghiên cứu, bài viết chuyên sâu, hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và truyền thông khoa học, đội ngũ trí thức Đắk Lắk đã góp phần làm phong phú nội dung báo chí, lan tỏa tri thức, định hướng dư luận xã hội và cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương trong thời kỳ mới.
Bà Hà Hoàng Yến làm Giám đốc Quỹ VIFOTEC
Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phan Xuân Dũng mong muốn bà Hà Hoàng Yến trên cương vị Giám đốc Quỹ VIFOTEC tiếp tục phấn đấu, rèn luyện, sâu sát, phát huy tốt vai trò và nhiệm vụ mới được phân công để góp phần cùng tập thể cán bộ Quỹ VIFOTEC vượt qua khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.
Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
DigiFest 2026 và tinh thần đưa chuyển đổi số đi vào thực chất
Tại Diễn đàn quốc gia số Việt Nam - DigiFest 2026 vừa qua, các chuyên gia khẳng định, chuyển đổi số không đơn thuần là việc số hóa những quy trình cũ, mà phải kiến tạo những phương thức vận hành mới dựa trên công nghệ số để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp;tạo ra giá trị mới và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.