Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 04/01/2011 20:41 (GMT+7)

Bàn về quy hoạch sử dụng đất

Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng

Cần thiết phải làm rõ về mặt pháp lý mối quan hệ giữa quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, QHSDĐ, QHXD và phân biệt mục tiêu, nội dung, sản phẩm, mục đích đạt được của các loại quy hoạch để khỏi chồng chéo, đỗ tốn kém và nâng cao hiệu quả. Ở đây, chúng ta chỉ thảo luận về chuyên đề QHSDĐ (bao gồm cả QHSDĐ chi tiết cấp xã) và QHXD (kể cả QHXD cụm điểm dân cư). Theo quy định chung, nguyên tắc cơ bản và căn cứ để lập QHSDĐ hay QHXD đều phải dựa trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, các sản phẩm quy hoạch là công cụ phục vụ cho việc quản lý đất đai và quản lý xây dựng đô thị. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu về định nghĩa, đặc điểm, loại hình quy hoạch, quy mô, nhiệm vụ, nội dung, mục đích, sản phẩm của chúng thì có nhiều điểm khác nhau. Khi phân tích theo định nghĩa hay khái niệm thì QHSDĐ nhằm mục đích phân bổ quỹ đất đai của cả nước, vùng, các cấp ở địa phương (khoanh định cho các mục đích của địa phương và các ngành). QHSDĐ được thực hiện trên quy mô 33.121.200 ha tổng tiện tích tự nhiên của cả nước (đã giao 23.763.800 ha) và tổ chức SDD như tư liệu sản xuất nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, phát triển kinh tế. Nếu tính theo nhóm đất phi nông nghiệp (loại trừ đất sông suối, mặt nước chuyên dùng và đất phi nông nghiệp khác), quy mô diện tích đất QHXH chỉ có 4.200.900 ha, (đã giao 2.325.400 ha, kể cả đất ở đô thị và đất ở nông thôn). Quy hoạch xây dựng (hay QHXD điểm dân cư nông thôn) là việc tổ chức không gian kiến trúc và bố trí các công trình (hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong khu vực quy hoạch) trên một khu vực lãnh thổ trong từng thời kỳ, làm cơ sở pháp lý cho việc chuẩn bị đầu tư xây dựng, quản lý xây dựng. Như vậy, chúng ta có thể thấy mục đích tổng quát của QHXD là bố trí không gian, phân khu chức năng, thiết kế các hạng mục công trình xây dựng cụ thể tại một địa điểm cụ thể nằm trong quy hoạch chung.

Xét về đặc điểm thì QHSDĐ thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô, tính chính sách, tính tổng hợp trung và dài hạn, tính khả biến và là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân. Đối với QHXD không có được tất cả các đặc điểm như QHSDĐ. Hầu hết QHXD mới chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, ngắn hạn mà không thể dự báo ra sao sau khi quy hoạch hoàn thành trong một bối cảnh chung và dẫn đến sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch sau này. Mặc dù hai loại quy hoạch đều căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm bố trí mục đích sử dụng trên một đối tượng duy nhất là đất đai và QHXD sử dụng đất đai chủ yếu cho các dự án, công trình, các khu công nghiệp, phân lô đất nền, đất ở, đất dự trữ phát triển…

Về sản phẩm của QHSDĐ và QHXD (cấp xã), ngoài quy định phải có báo cáo thuyết minh thì sản phẩm bản đồ có chung một tỷ lệ 1/2.000 (có dự án yêu cầu tỷ lệ 1/500), nhưng khối lượng bản đồ (hoặc vẽ trên bản đồ) của QHXD khá đồ sộ, nội dung bản đồ mang tính chuyên ngành. Mục đích sử dụng của hai sản phẩm bản đồ là khác nhau: Bản đồ của QHSDĐ (cho toàn xã) là để phục vụ quản lý, sử dụng đất đai (giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất); bản đồ QHXD (khu vực quy hoạch có liên hệ vùng khoảng 40 ha) để phục vụ cho quản lý xây dựng (chỉ giới đường đỏ quy hoạch, chỉ giới xây dựng, phân khu chức năng, đất ở…). Thông thường, diện tích QHXD cụm điểm dân cư nông thôn được khống chế trung bình từ 14 - 15 ha, tương đương 3% diện tích một xã khu vực đồng bằng, QH liên hệ vùng khoảng 10% diện tích đất tự nhiên).

Một số ý kiến cho rằng đồng thời tiến hành lập hai loại quy hoạch này là trùng lắp, lãng phí, kém hiệu quả. Ví như ý kiến của ông Võ Kim Cương (nguyên Phó GĐ Sở Xây dựng TP. HCM): “… không ít tư vấn đã nhận ra rằng trong một đô thị thì sự trùng lặp giữa QHSDĐ và QHXD là rất lớn khi được giao làm QHSDĐ, họ lấy ngay QHXD rồi… bôi màu theo quy định của từng loại đất cho thành QHSDĐ”. Xin không bàn luận nhiều về ý kiến này nhưng sau khi thực hiện nhiều dự án QHSDĐ cấp xã và một số dự án quy hoạch chung khu trung tâm (mô hình thị tứ, nay gọi là điểm dân cư cấp xã) thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy ý kiến trên là thiếu căn cứ và rất “chủ quan”. Đến đây chúng ta có thể khẳng định QHSDĐ chỉ trùng lặp, chồng chéo với QHXD đối với các quy hoạch khi lập các dự án trong quy hoạch đô thị hoặc chỉnh trang đô thị (thành phố, thị xã, thị trấn, phường, khu đô thị mới, cụm điểm dân cư). Còn đối với các xã ngoài khu vực đô thị, nói cách khác là các xã ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, QHXD không được triển khai, thực hiện ngoài một tỷ lệ nhỏ số xã được quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (Năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã quyết định đầu tư xây dựng 500 trung tâm cụm xã, với nguồn kinh phí 2.800 tỷ đồng). Tỷ lệ này so với các dự án QHSDĐ cấp xã của cả nước là quá nhỏ. Vì vậy, xét về phương diện toàn diện và lãnh thổ thì không thể kết luận QHSDĐ cấp xã chồng chéo với QHXD cụm điểm dân cư để viện dẫn cho ý tưởng bỏ QHSDĐ cấp xã.

Về quan điểm bỏ quy hoạch sử dụng đất cấp xã (bao gồm QHSDĐ chi tiết)

Tại hội thảo QHSDĐ do Viện Nghiên cứu Địa chính và Hội Khoa học Đất Việt Nam tổ chức gần đây, một số ý kiến đã đề xuất: Không lập QHSDĐ cấp xã để tránh trùng lặp với quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định về pháp luật xây dựng; những nội dung trong QHSDĐ cấp xã sẽ được đưa vào QH, KHSDĐ cấp huyện. Theo chúng tôi, vấn đề “bỏ” hay “không bỏ” QHSDĐ cấp xã trong hệ thống QHSDĐ ở nước ta hiện nay cần được nghiên cứu và xem xét kỹ lưỡng.

Trước hết cần nhất quán nguyên tắc quản lý thống nhất về đất đai ở nước ta phải bắt đầu từ cơ sở trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Căn cứ Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 24 - 4 - 2007 của UBTVQH, trong đó quy định những nội dung công khai để dân biết: “… quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã” (K2, Điều 5, Chương II); những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định: “Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã” (K2, Điều 19, Chương IV).

Như vậy, người dân (người sử dụng đất trực tiếp) từ cấp cơ sở được luật pháp giao cho quyền năng tham gia, giám sát quá trình thành lập và thực hiện QH, KHSDĐ thông qua cơ quan đại diện hành chính là UBND cấp xã trực tiếp. Nếu việc lập QH, KHSDĐ cấp xã được thực hiện ở cấp huyện thì chắc chắn người sử dụng đất không có điều kiện tiếp cận thực hiện các quyền đã được pháp luật đất đai, pháp lệnh dân chủ cơ sở bảo hộ. Theo quy định của pháp luật đất đai, chỉ có UBND cấp huyện, cấp tỉnh mới có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (cấp xã không có thẩm quyền), nhưng đối tượng quản lý trực tiếp về quỹ đất, vi trí, tính chất sử dụng… của đất đai lại trực tiếp từ cấp xã. Như vậy, khi triển khai KHSDĐ, cấp huyện phải “áp đặt” xuống cấp xã buộc cấp xã phải thực hiện kế hoạch. Như vậy, huyện sẽ không “đủ sức” (về nhân lực, năng lực, trình độ, nghiệp vụ…) dẫn đến tính khả thi không cao và phát sinh “Quy hoạch treo”, “dự án treo”, “giải tỏa treo”… triển khai cho thấy đối với QH, KHSDĐ ở 3 cấp thì cấp tỉnh và cấp xã là cần thiết và cơ bản, trong đó cấp huyện chỉ đóng vai trò trung gian tổng hợp thông tin, số liệu, tiềm năng đất đai của cấp xã trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu sử dụng đất, KHSDĐ của cấp tỉnh. Đến thời điểm công nghệ thông tin phát triển, khi đó vai trò trung gian về QH, KHSDĐ cấp huyện sẽ dần bị “lu mờ”. Vì vậy, phải tính đến bài toán cho tương lai để có định hướng, chiến lược QHSD đất đai hiệu quả. Riêng đối với sản phẩm bản đồ của dự án QHSDĐ, yêu cầu đối với sản phẩm là phải đưa về dạng số và chi tiết đến từng thửa đất. Theo quy định, nếu phải in sao bản đồ số ra giấy thì việc xây dựng bản đồ quy hoạch chi tiết của tất cả các xã cho một bản đồ QHSDĐ của huyện theo tỷ lệ 1/2.000 đến 1/5.000 là điều không thể,

Về thẩm quyền và quản lý, có ý kiến cho rằng, do cấp xã không có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nên chức năng quản lý, sử dụng đất phải để cấp huyện trên cơ sở QH, KHSDĐ cấp huyện. Quan điểm này chưa phù hợp với trình độ quản lý của cán bộ chính quyền cũng như cán bộ chuyên môn ở cấp huyện, xã và không thực tế, cần có nghiên cứu sâu về quan điểm này. Đối với công tác quản lý và thực hiện QH, KHSDĐ hiện trạng cấp huyện còn chưa quản lý đủ, quản lý hết KHSDĐ theo phân cấp thì làm sao có thể quản lý việc thực hiện KHSDĐ ở cấp xã được?

Về nguồn nhân lực, hiện trạng, phòng TNMT cấp huyện (cả Văn phòng đăng ký QSDĐ) với biên chế như hiện nay (bình quân Thanh Hóa có 24 xã/ huyện, Hải Dương, Lạng Sơn có 22 xã/ huyện…) thì việc thực hiện quản lý sử dụng đến từng thửa đất theo quy hoạch đối với cấp huyện là không khả thi.

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực tế trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của ngành. Đây là một trong nguyên nhân cơ bản của các ý kiến đề nghị “bỏ” lập QH, KHSDĐ cấp xã. Theo suy nghĩ của chúng tôi, tồn tại này không khó khắc phục, quan trọng là Nhà nước và các cấp chính quyền và ngành phải có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phối hợp bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý từ TƯ xuống đến cơ sở.

Lời kết

Từ ý kiến thảo luận trên để đi đến một khuyến nghị không nên “bỏ” quy định lập QH, KHSDĐ và QHSDĐ chi tiết cấp xã trong tổng thể hệ thống QHSDĐ hiện hành, đây là ý kiến chủ quan của tác giả bài viết. Giải pháp đề xuất cho công tác quản lý quy hoạch là Nhà nước cần nghiên cứu xây dựng Luật Quy hoạch để áp dụng cho tất cả các loại hình quy hoạch đảm bảo thực thi đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi cao. Đồng thời việc quy hoạch lại đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực đất đai, xây dựng nhằm nâng cao năng lực tổ chức, quản lý QHSDĐ, QHXD cho thời kỳ công nghiệp hóa, đô thị hóa và hội nhập là quan trọng và cần thiết.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.