Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 26/10/2010 19:31 (GMT+7)

Bàn về cơ cấu nguồn nhân lực việt nam

1. Khái niệm về cơ cấu nguồn nhân lực

Cơ cấu NNL thường được hiểu như là cấu trúc của NNL, bao gồm các thành tố phân loại theo một tiêu chí nào đó cùng với tỉ trọng tương quan giữa các thành tố đó. Nội dung cụ thể của cơ cấu NNL phụ thuộc vào quan niệm về NNL. Cho đến nay, các định nghĩa và quan niệm về NNL thường được xem xét theo hai hướng chủ yếu.

Hướng thứ nhất cho rằng NNL là năng lực của những người đang tham gia hoặc có tiềm năng tham gia vào hoạt động lao động nào đó để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ có ích cho xã hội. Với nghĩa rộng như thế về NNL, các thành tố cơ bản của NNL của một quốc gia sẽ gồm:

Số giáo viên (tiểu học và trung học) trên 10.000 dân; số kĩ sư và nhà khoa học trên 10.000 dân; số y bác sĩ, nha sĩ trên 10.000 dân; tỉ lệ học sinh đi học ở cấp tiểu học (%) của nhóm tuổi từ 5 đến 14; tỉ lệ học sinh đi học cả cấp tiểu học và trung học; tỉ lệ học sinh đi học ở cấp trung học (%) của nhóm tuổi từ 15 đến 19; tỉ lệ học sinh đi học đại học (%) trong nhóm tuổi từ 20-24. Trong cơ cấu chung này, người ta còn phân biệt NNL trình độ cao, bao gồm: Nhân lực làm việc trong các ngành kinh doanh, quản lí, hành chính ở cả các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, trong đó có các cơ sở giáo dục; các nhà khoa học, kĩ sư, kiến trúc sư, nhà nông học, bác sĩ, bác sĩ thú y, các nhà kinh tế, luật sư, kế toán, nhà báo, nghệ sĩ; đội ngũ giáo viên có trình độ, được hiểu là những cá nhân được giáo dục tối thiểu 12 năm; đội ngũ kĩ thuật gồm những người hỗ trợ về nông nghiệp, y tá, trợ lí về cơ khí, đội ngũ kĩ thuật viên, nhân viên cao cấp, quản đốc, thợ thủ công trình độ cao, công nhân có tay nghề cao như nhân viên tốc kí; nhà lãnh đạo chính trị hàng đầu, các nhà lãnh đạo về lao động, thẩm phán, các quan chức của ngành công an và quân đội (Harbison F. và Myer C.A. 1964).

Hướng thứ hai cho rằng NNL bao gồm lực lượng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên (Đỗ Minh Cương, 2002, Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha, 2006). Theo quan niệm này, cơ cấu NNL có thể phân loại theo trình độ đào tạo và theo vị trí công việc. Cơ cấu NNL theo trình độ đào tạo thường bao gồm các thành tố sau:

- Số lượng (tỉ lệ) lao động tốt nghiệp đại học/cao đẳng trở lên;

- Số lượng (tỉ lệ) lao động tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp;

- Số lượng (tỉ lệ) lao động có bằng cấp công nhân lành nghề;

- Số lượng (tỉ lệ) lao động không có bằng cấp.

Cơ cấu NNL theo vị trí công việc thường bao gồm các thành tố sau:

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà quản lí;

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà phát minh sáng chế;

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà chuyên môn bậc cao (bằng đại học);

- Số lượng (tỉ lệ) các nhà chuyên môn bậc trung;

- Số lượng (tỉ lệ) công nhân lành nghề;

- Số lượng (tỉ lệ) công nhân không lành nghề.

Ngoài ra, người ta có thể xem xét cơ cấu NNL dưới các khía cạnh ngành nghề, cung cầu, trình độ nghề nghiệp, địa phương, v.v. . .

2. Những tranh luận về cơ cấu nguồn nhân lực

Những tranh luận gần đây về cơ cấu NNL thường tập trung vào tỉ lệ các thành tố của NNL. Chẳng hạn, khá nhiều tài liệu trích dẫn các số liệu của Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tỉ lệ cơ cấu lao động theo các giai đoạn tiến bộ kĩ thuật.

Việc xem xét cho ta thấy trình độ tiến bộ kĩ thuật ngày càng tăng thì cơ cấu lao động của các quốc gia có một số xu thế đặc trưng như sau:

-Tỉ lệ lao động giản đơn mới đầu có giá trị không cao và biến mất sau một thời gian phát triển ngắn;

-Tỉ lệ công nhân kĩ thuật (CNKT) chưa lành nghề mới đầu có giá trị khá lớn, song cũng giảm dần và không còn đối với 4 giai đoạn phát triển cuối cùng;

-Tỉ lệ CNKT lành nghề mới đầu có giá trị vừa phải, sau tăng dần, đạt được mức độ cao ở giữa các giai đoạn phát triển, rồi sau đó giảm dần và không còn đối với giai đoạn phát triển cuối cùng;

-Tỉ lệ kĩ sư mới đầu có giá trị rất nhỏ, song tăng đều và đạt đến giá trị lớn nhất đối với giai đoạn phát triển cuối cùng;

-Tỉ lệ kĩ sư mới đầu có giá trị rất nhỏ, song tăng đều và đạt đến giá trị lớn nhất đối với giai đoạn phát triển cuối cùng;

-Tỉ lệ những người có bằng cấp trên đại học sau này mới xuất hiện, song tăng đều và đạt đến giá trị lớn nhất đối với giai đoạn phát triển cuối cùng.

Từ năm 1986 đến 1996, Uỷ ban Kinh tế và Xã hội của khu vực châu Á - Thái Dình Dương (United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific) đã nghiên cứu sự phát triển về cơ cấu NNL ở nhiều quốc gia khác nhau và đã tổng quan 3 mô hình về cơ cấu NNL cho 3 loại hình quốc gia: Các nước phát triển, các nước đang phát triển, các nước chậm phát triển theo các cơ cấu NNL gồm 5 thành tố cơ bản được phân theo trình độ từ cao đến thấp là:

(1 ) Các nhà sáng chế và đổi mới (bao gồm cả các nhà quản lí cấp cao) ở trình độ trên đại học;

(2) Các nhà quản trị và kĩ sư ở trình độ đại học;

(3) Các kĩ thuật viên và cán bộ có trình độ trung cấp;

(4) Thợ thủ công và công nhân có tay nghề cao;

(5) Các công nhân bậc thấp và lao động phổ thông.

Đây là tiêu chí phân loại cơ cẩu NNL dựa trên cơ sở của sự phân công lao động chứ không căn cứ theo trình độ học vấn hay thời gian đào tạo. Mô hình cụ thể cho các loại nước như sau.

- Các nước chậm phát triển có mô hình nhân lực tháp nhọn với đa số người lao động có trình độ chuyển môn thấp và chủ yếu lao động thủ công. Nhân lực lao động trình độ cao (đại học, sau đại học) chiếm tỉ lệ rất ít.

- Các nước đang phát triển có mô hình nhân lực hình tam giác với số lao động có trình độ trung cấp và đại học cao hơn các nước chậm phát triển, nhưng còn rất ít các nhà phát minh, sáng chế. Các nước này đang nỗ lực phát triển hệ thống đào tạo nhân lực trình độ cao (cao đẳng, đại học và sau đại học) để nâng cao trình độ và chất lượng NNL.

- Các nước đã phát triển có mô hình nhân lực hình trứng với đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có đội ngũ các chuyên gia cao cấp các nhà phát minh sáng chế ở các trình độ đào tạo khác nhau không nhất thiết là ở trình độ đại học. Các nước này có hệ thống giáo dục đại học và nghiên cứu phát triển với tỉ lệ cao số dân trong độ tuổi 18 - 35 đi học đại học

Cơ cấu NNL là một đề tài thu hút sự chú ý của hầu hết các học giả Việt Nam khi bàn về NNL và PTNNL (Phạm Minh Hạc, Nguyễn Minh Đường, Đỗ Minh Cương, Nguyễn Đức Trí, Trần Khánh Đức, Phan Chính Thức...). Có thể coi Phạm Minh Hạc là người tiên phong nghiên cứu về cơ cấu NNL từ những năm 1991 khi ông là chủ nhiệm Chương trình KX-07 (1991-1995).

Theo ông, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai (tháng 12-1996) của Ban Chấp hành Trung ương (khóa Vlll) đã chỉ ra một vấn đề lớn mà đến nay vẫn đòi hỏi phải mau chóng chấn chỉnh, đó là vấn đề cơ cấu trình độ đào tạo của đội ngũ lao động được đào tạo, cụ thể là tỉ lệ lao động có trình độ đại học trở lên -A (lấy đơn vị là 1) so với số công nhân kĩ thuật - C.

Theo kết quả điều tra của Chương trình KX- 07 (1991-1995), A=1; B=1,75; C=2,3. So sánh cơ cấu lao động Việt Namvới các nước phát triển và đang phát triển cho thấy cơ cấu lao động của Việt Nam rất bất hợp lí, cần nhanh chóng điều chỉnh (Phạm Minh Hạc, 2001).

Sau này có khá nhiều các học giả cùng chung quan điểm này và đưa ra các số liệu cập nhật hơn về cơ cấu lao động có đào tạo ở Vệt Nam (Đỗ Minh Cương; Phan Chính Thức. . . ). Chẳng hạn Đỗ Minh Cương (2002) cho rằng cơ cấu lao động của Việt Nam là 1:1, 5:3,5 và của thế giới là 1:4:10. Còn Phạm Lê Phương (2009) cho rằng cơ cấu lao động đã qua đào tạo theo trình độ nói chung (trình độ CĐ, ĐH trở lên/ TCCN/CNKT) thay đổi theo chiều hướng không tốt và chậm được cải thiện từ 1/2,25/7,1 (1979) còn 1/1,24/2,35 (2000) và 1/0,81/2,87 (2005). Khuyến cáo được đưa ra trong trường hợp này là cần xem xét lại hệ thống đào tạo nhân lực của Việt Nam , đặc biệt cần chú trọng tăng quy mô đào tạo về dạy nghề và trung cấp chuyên nghiệp.

3. Kết luận

Rõ ràng, NNL là vấn đề khá nóng bỏng mà các học giả về NNL/PTNNL ở Việt Nam quan tâm, song cần lưu ý một số điểm như sau.

- Trước hết cần làm rõ xem cơ cấu nhân lực của các tổ chức quốc tế đưa ra được tính trên cơ sở nào, đó có phải tỉ lệ các nhóm nhân lực nằm trong thứ bậc cơ cấu NNL của một quốc gia hay là tỉ lệ các nhóm nhân lực có bằng cấp đào tạo tương ứng các cấp độ chứng chỉ, bán lành nghề, lành nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng/đại học hoặc cao hơn nữa. Ở Việt Nam , chúng ta tính theo cách cuối nên không biết có tương thích với cách tính của quốc tế không? Thực ra, trong các ấn phẩm về Số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam có một số thông tin về cơ cấu NNL theo vị trí công việc.

Nếu làm rõ thêm nội dung của một số thành tố như nhân viên trong các lĩnh vực và nhân viên dịch vụ cá nhân, bảo vệ thì ta sẽ có một bức tranh khác về cơ cấu NNL ở Việt Nam .

- Thứ hai, thực ra trong thị trường lao động của nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam, vẫn có tình trạng người có bằng cấp cao, đại học hay cao đẳng, vẫn có thể làm việc ở trình độ bậc trung trong bậc cơ cấu nhân lực mà ta hay quen gọi là kĩ thuật viên. Khi nghiên cứu hiện tượng này, Nguyễn Đức Trí đã khái quát thành một sơ đồ thú vị cho thấy luồng chảy có thể của NNL có bằng cấp nhất định đến các cấp độ lao động tương đương hoặc thấp hơn.

- Thứ ba, cần xem lại mô hình sử dụng nhân lực ở Việt Nam khi vì điều kiện nào đó mà nhiều nhà sử dụng vẫn dùng NNL có trình độ cao để thực hiện các nhiệm vụ của vị trí thấp hơn. Ngoài ra, khác với nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rất phổ biến tình trạng không có biên chế đủ về đội ngũ trợ giúp cấp thấp cho NNL trình độ cao trong nhiều tổ chức khác nhau. Điều này rất có thể dẫn đến sự bóp méo cái gọi là cơ cấu NNL ở Việt Nam và dễ che lấp nguyên nhân chủ yếu khiến chúng ta đưa ra những nhận định không chính xác.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.