Bãi nhiệm và miễn nhiệm
Từ góc độ ngôn ngữ học, có thể thấy ở đây có vấn đề trong sự phân biệt giữa bãi nhiệm và miễn nhiệm. Và đoạn trích dẫn trên chứng tỏ rằng những điểm khác biệt về nghĩa giữa hai từ Hán - Việt này.
2. Từ điển tiếng Việtcủa Viện Ngôn ngữ học (2000) định nghĩa:
Bãi nhiệm: đg. Bãi bỏ chức vụ đối với đại biểu dân cử trước khi hết nhiệm kì theo Nghị quyết của cơ quan dân cử. 2. Bãi nhiệm bỏ chức vụ nào đó (thường là quan trọng) trong bộ máy nhà nước (tr 27)
Miễn nhiệm: Cho thôi không tiếp tục giữ chức vụ nào đó trong bộ máy nhà nước, trái với bổ nhiệm (tr 632).
Từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy giữa miễn nhiệmvà bãi nhiệmcó những nét nghĩa chung như sau:
a. Sau khi việc bãi nhiệmhay miễn nhiệmcó hiệu lực, người có chức vụ sẽ không tiếp tục điều hành và đảm nhiệm công việc ở chức vụ trước khi nhận quyết định bãi hay miễn nhiệm.
b. Việc bãi nhiệmvà miễn nhiệmthường diễn ra trước khi hết nhiệm kỳ hoạt động của chức vụ đó.
c. Việc bãi nhiệmvà miễn nhiệmkhông phải thuộc phạm vi quyền hạn của một cá nhân, mà kết quả của việc bỏ phiếu hay ra nghị quyết của một tập thể nào đó.
d. Việc bãi nhiệmvà miễn nhiệmthường được tiến hành trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước.
3. Tuy nhiên, ngoài những điểm chung đó, bãi nhiêmvà miễn nhiệmcó những nét nghĩa khác nhau đầy tinh tế mà trong phạm vi một cuốn từ điển có thể chưa đề cập đến hết được.
Miễn nhiệmvà bãi nhiệmhẳn là khác nhau. Chẳng thế mà Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước ta phải tranh cãi về việc miễn nhiệmvà bãi nhiệmvới một bộ trưởng. Điều này không phải không có lí do của nó, bởi lẽ, Hiến phápnăm 1992 của nước ta, khoản 7, điều 84 quy định quyền của Quốc hội là “ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệmChủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về việc thành lập Hội đồng quốc phòng và an ninh”.
Không chỉ có Hiến pháp,hai khái niệm bãi nhiệmvà miễn nhiệmcòn xuất hiện trong rất nhiều văn bản pháp quy khác. Ví dụ khoản 1 và 2 Điều 41 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dânquy định:
- Hội thẩm Tòa án nhân dân có thể được miễn nhiệmvì lí do sức khỏe hoặc lí do khác.
- Hội thẩm Tòa án nhân dân có thể bị bãi nhiệmkhi có vi phạm về phẩm chất, đạo đức hoặc có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm Hội thẩm Tòa án nhân dân.
Sự phân biệt trong Pháp lệnhtrên cho thấy rõ ràng sự khác nhau giữa miễn nhiệmvà bãi nhiệm.Chỉ cần ta để ý một chút sẽ thấy đứng trước miễn nhiệmlà “được”, trong khi đứng bãi nhiệmlà “bị”.
Như vậy, miễn nhiệmtrước tiên được xem là một hình thức cho phép được thôi không tiếp tục đảm nhiệm một chức vụ hay chức danh nào đó trong bộ máy nhà nước trước khi hết nhiệm kì quy định. Lí do của việc miễn nhiệmnày có thể là do người đương đảm nhiệm chức vụ đó gặp các vấn đề về sức khỏe, hoặc được điều chuyển công tác, hoặc được quyền nghỉ hưu, nghỉ chế độ, hoặc chức danh đó bị thay đổi hoặc bãi bỏ… Với cách hiểu này, việc miễn nhiệmkhông phải diễn ra do người đương chức phạm khuyết điểm hay sai lầm. Do đó, chẳng hạn trong kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã bỏ phiếu để miễn nhiệmchức vụ Phó Thủ tướng đối với ông Vũ Khoan và 7 bộ trưởng, thủ tướng cơ quan ngang bộ khác với nhiều lí do khác nhau nhưng tất cả đều không phải là một hình thức kỉ luật.
Trong khi đó, bãi nhiệmlà một hình thức kỉ luật. Bãi nhiệmchỉ diễn ra khi người đương chức phạm phải những khuyết điểm, sai sót trong công tác điều hành, chỉ đạo hoặc đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, sự phát triển của một tổ chức nào đó. Do vậy, người này không còn đủ năng lực và độ tin cậy để lãnh đạo nữa. Khi đó, tập thể tổ chức sẽ là người đưa ra quyết định bãi nhiệm.Với cách hiểu này, bãi nhiệmđồng nghĩa với cách chức. Tuy nhiên, bãi nhiệmlà thuật ngữ được sử dụng một cách chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam .
4. Đến đây, ta có thể có một cái nhìn khái quát về sự khác nhau giữa miễn nhiệmvà bãi nhiệm. Đó là sự phân biệt giữa một bên “có khuyết điểm” và một bên “không có khuyết điểm”. Từ đó, trở lại với thủ pháp chêm xen ở trên, nếu ta chêm “bị” vào trước miễn nhiệm, kết hợp thu được “bị miễn nhiệm” vẫn có thể được sử dụng.
Ví dụ:
“ Do có nhiều sai phạm trong quản lí, giảng dạy và buông thả về lối sống… thầy hiệu trưởng trường THPT Quỳnh Lưu 2 (huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An) dã bị miễn nhiệm”.
Ngược lại, “được bãi nhiệm” là một kết hợp bất thường. Do đó, theo nét nghĩa này, khhông thể nói: “Hội thẩm Tòa án nhân dân có thể đượcbãi nhiệmkhi có vi phạm về phẩm chất, đạo đức hoặc có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm Hội thẩm Toà án nhân dân”.
Có thể thấy, thủ pháp chêm xen đã bộ lộ thái độ cú pháp của hai cụm từ này. Việc miễn nhiệmcó thể kết hợp với cả “bị” và “được” chứng tỏ rằng nó có thể được hiểu theo cả khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực. Trong khi đó, bãi nhiệmchỉ có thể kết hợp với “bị” và không kết hợp với “được”, cho nên chỉ có thể được hiểu theo khía cạnh tiêu cực.
Như vậy, nếu như bãi nhiệmthể hiện rõ nét nghĩa bị tước bỏ, không được phép đảm nhiệm chức vụ hiện tại do mắc phải sai lầm, khuyết điểm thì miễn nhiệmngoài nét nghĩa được phép ngừng đảm nhiệm một chức vụ nào đó trước thời hạn do những yêu cầu về công tác, thì lại đã phái sinh nét nghĩa thứ hai là bị đình chỉ chức vụ do phạm phải sai lầm, tức là đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với bãi nhiệm.
5. Vì thế, không quá khó hiểu khi các đại biểu Quốc hội tranh cãi về việc dùng miễnhay bãiđối với một thành viên Chính phủ có khuyết điểm. Thực chất, bãi nhiệmhay miễn nhiệmđều là việc ngừng thực thi chức trách trước nhiệm kì, nhưng ở đây, hai từ này đã phân biệt nhau ở mức độ.
Nếu bãi nhiệmlà một hình thức kỉ luật được dùng đối với những trường hợp có sai phạm, khuyết điểm lớn trong công tác điều hành, chỉ đạo, gây hậu quả nghiêm trọng thì miễn nhiệmcũng được xem là một hình thức kỉ luật, nhưng ở mức độ nhẹ hơn. Sở dĩ như vậy là vì miễn nhiệmcó thể được hiểu một cách nhập nhằng giữa hai nét nghĩa nêu trên, vừa có thể là do yêu cầu của công tác, vừa có thể là do mắc phải những sai phạm.
Thế nhưng, việc đánh giá mức độ nặng hay nhẹ của một sai phạm, một lỗi lầm không phải lúc nào cũng rõ ràng. Mặt khác, bãi nhiệmvới tư cách là một hình thức kỉ luật nghiêm khắc, sẽ tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh tiếng, thể diện cũng như sự nghiệp của nhân vật có liên quan. Cho nên, người ta thường phải cân nhắc rất kĩ lưỡng khi cất bút (hay nhấn phím) lựa chọn hình thức bãi nhiệmhay miễn nhiệm.
Và kết quả là, như tác giả Xuân Ba trên báo Tiền phongnhận xét: “Trong kho tàng tiếng Việt ta, nói cũng như viết đã sẵn cụm từ miễn nhiệmhay bãi nhiệmnhưng lâu nay hầu như chưa mấy khi dùng từ bãi nhiệm” (Tiền phong, 26/6/2006).
Tại sao vậy? Bởi lẽ dù có lỗi lầm khuyết điểm đến đâu đi nữa, hẳn là chẳng có người nào mong muốn cái hình thức “ bãi nhiệm” cả. Còn ở góc độ của người xử lí, sự thận trọng trong việc áp đặt một quyết định kỉ luật cũng khiến họ phải cân nhắc giữa hai từ này. “ Miễn nhiệm” có lẽ là giải pháp ưa dùng hơn ở nước ta, nơi mà các mối quan hệ xã hội được giải quyết trên cơ sở của sự hài hòa giữa cả chữ tình và chữ lí, nơi mà thể diện của mỗi cá nhân luôn được đề cao trong tương tác xã hội.
Do đó, từ việc điều chuyển công tác đến việc không hòan thành nhiệm vụ và thậm chí đến cả trường hợp “có nhiều sai phạm trong quản lí, giảng dạy và buông thả về lối sống” như ví dụ ở trên, người ta vẫn thiên về dùng miễn nhiệmhơn. Tuy nhiên, cũng có không ít những trường hợp mà hình thức bãi nhiệmvẫn được sử dụng. ví dụ:
“HĐND phường 2, quận Phú Nhuận, Tp HCM vừa đề nghị bãi nhiệmchức danh chủ tịch HĐND phường đối với ông Nguyễn Văn Minh. Hai năm công tác, ông Minh đã bộc lộ nhiều yếu kém về trình độ, năng lực, tham gia giải quyết một số vụ việc sai thẩm quyền”.
( Người lao động, 12/3/2007)
6. Trong trường từ vựng đang xét, người Việt ta còn sử dụng từ bãi miễn.Từ điển tiếng Việt (2000) định nghĩa: Bãi miễn:đg. Hủy bỏ tư cách đại biểu nào đó trước khi hết nhiệm kì theo biểu quyết của đa số cử tri hoặc cơ quan dân cử”. Như vậy, bãi miễntrước hết phải được sử dụng không phải với các chức danh mà là với tư cách đại biểu hay thành viên (ủy viên) trong một tổ chức, một ban chấp hành nào đó như Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các tổ chức Hội, Liên đoàn… Chẳng hạn, sau khi lấy biểu quyết Quốc hội khóa XI đã bãi miễn tư cách đại biểu Quốc hội với ông Lê Minh Hoàng, Mạc Kim Tôn…., Liên đòan bóng đá Việt Nam đã bãi miễn tư cách ủy viên BCH với ông Nguyễn Hồng Thanh… Có thể thấy, tất cả các nhân vật bãi miễnđều có những khuyết điểm, thiếu sót nhất định .
Mặt khác, bãi miễn cũng có thể được sử dụng với tư cách là sự nói tốt của bãi nhiệm và miễn nhiệm. Khi đó, bãi miễn vừa có thể hiểu là bãi nhiệm, vừa có thể là miễn nhiệm.
7. Sự không rõ ràng trong cách dùng giữa miễn nhiệmvà bãi nhiệmở một thực tế trong tiếng Việt hiện nay. Ở góc độ lập pháp mà xét, việc tách bạch giữa miễn nhiệmvà bãi nhiệmlà điều cần thiết. Bởi lẽ xóa nhòa ranh giới giữa hai khái niệm này chính là việc đánh đồng ưu và khuyết điểm với nhau. Vấn đề là ở chỗ chúng ta vẫn chưa đề ra một bộ tiêu chí sáng rõ cho việc phân biệt rạch ròi và nghiêm ngặt hai khái niệm trên để áp dụng trong các vấn đề công cụ. Nhưng đó không phải chỉ là công việc của các nhà ngôn ngữ học, mà phải có sự chung tay của các nhà lập pháp cũng như hành pháp và cả giới báo chí.








