APP: Đi lên từ KH&CN
Chuyển đổi mô hình hoạt động từ hành chính bao cấp sang cơ chế doanh nghiệp
Khi mới ra đời, APP gặp rất nhiều khó khăn: Không có vốn, không có một tấc đất "cắm dùi" (toàn bộ vốn kinh doanh phải vay của cán bộ và ngân hàng, tất cả đất đai, nhà xưởng đều phải đi thuê), hệ số lương của cán bộ đều giảm so với thời kỳ ở Viện, quen sống trong bao cấp nay phải đối mặt với cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, không có bất kỳ ưu đãi nào của Nhà nước... Nhưng chính sức ép đó đã khơi dậy tư duy mới, sáng tạo, quyết tâm “vượt cạn”, từng bước đi lên và thành công.
APP đã hoạt động theo mô hình gắn kết nghiên cứu phát triển - dịch vụ kỹ thuật - sản xuất - kinh doanh các sản phẩm từ chính kết quả nghiên cứu tạo ra trong chuyên ngành vật liệu bôi trơn và ma sát học - một lĩnh vực KH&CN còn rất mới mẻ ở nước ta, là ngành kỹ thuật giáp ranh giữa công nghệ hoá học - công nghệ vật liệu, công nghệ chế tạo máy và kinh tế học. Mục tiêu của APP là phát triển công nghệ sản xuất dầu mỡ bôi trơn, phụ gia, chất lỏng thuỷ lực và vật liệu có chất lượng cao thay thế sản phẩm nhập ngoại và ứng dụng kỹ thuật ma sát (Tribology) để giảm mài mòn, ăn mòn làm hư hỏng máy móc, thiết bị (thiệt hại do dạng hư hỏng này gây nên ước tính khoảng 1% GDP). Kiên trì với mục tiêu đó và APP đã thành công.
Đến đầu năm 2004, APP lại tiếp tục chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần để thu hút vốn đầu tư trong xã hội, mở rộng lĩnh vực hoạt động, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong giai đoạn mới.
Đi lên từ KH&CN
APP luôn coi trọng công tác nghiên cứu phát triển công nghệ theo phương châm: Vừa tự nghiên cứu các công nghệ đặc thù riêng của mình, vừa hợp tác tiếp cận công nghệ tiên tiến từ nước ngoài, trên cơ sở đó nội địa hoá, cải tiến để có công nghệ thích hợp, sản phẩm có chất lượng cao và giá thành cạnh tranh. Các công ty nước ngoài đưa ra sản phẩm mới, thì chỉ sau 1-2 năm , APP đã có sản phẩm tương tự. Hầu hết các sản phẩm tạo ra đều là kết quả của nghiên cứu phát triển, là sản phẩm đầu tiên được sản xuất ở nước ta.
Mỗi năm, APP đầu tư khoảng 2% doanh thu cho nghiên cứu phát triển (chưa kể ngân sách hỗ trợ của Nhà nước). Từ khi thành lập đến nay, APP đã nghiên cứu trên 35 đề tài, dự án KH&CN quan trọng, có giá trị khoa học và kinh tế. Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều được áp dụng vào sản xuất tại Công ty hoặc chuyển giao công nghệ, góp vốn đầu tư để sản xuất. Sau khi kết thúc một dự án KH&CN, APP thường đầu tư xây dựng xưởng sản xuất với các sản phẩm mới. Công ty không chỉ nghiên cứu công nghệ truyền thống mà còn tiếp cận với xu thế phát triển mới của thế giới để nghiên cứu tạo ra công nghệ sản xuất sạch, công nghệ sinh thái, sản phẩm “thân thiện” môi trường (như dầu mỡ bôi trơn, chất lỏng thuỷ lực, nhiên liệu sinh học) trên cơ sở sử dụng nguyên liệu thực vật tái tạo ở trong nước.
Ngoài ra, APP còn tham gia nghiên cứu các loại dầu bôi trơn và bảo vệ đặc chủng dùng cho an ninh quốc phòng, đề xuất với Chính phủ những vấn đề lớn, mang tầm quốc gia như “Dự án phát triển nhiên liệu sinh học giai đoạn 2006-2020” từ nguyên liệu thực vật tái tạo; tham gia xây dựng quy hoạch phát triển công nghiệp, tham gia nghiên cứu các đề tài đổi mới quản lý...
Những kết quả đã đạt được
Để đưa các kết quả nghiên cứu công nghệ áp dụng vào sản xuất, hàng năm APP đã đầu tư trên 10 tỷ đồng để xây dựng các xưởng sản xuất tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Hợp tác với các viện nghiên cứu để thiết kế chế tạo và lắp đặt các dây chuyền sản xuất với giá thành chỉ bằng 60% nhập ngoại. Bên cạnh đó, Công ty còn liên kết để đầu tư ra bên ngoài, điển hình là chuyển giao công nghệ và góp vốn đầu tư với Công ty MTS (Tập đoàn Than Việt Nam) để sản xuất dầu bôi trơn, chất lỏng thuỷ lực phục vụ ngành than với dây chuyền công suất 5.000 tấn/năm. Những sản phẩm này được dùng trong các doanh nghiệp sản xuất than và tỉnh Quảng Ninh. Đây là mô hình liên kết rất hiệu quả, phát huy tốt nội lực của các công ty trong nước. Ngoài ra, Công ty còn liên doanh với hãng Caltex (Mỹ) để thành lập Công ty liên doanh Caltex Việt Nam chuyên sản xuất dầu bôi trơn chất lượng cao (nay đã chuyển 100% vốn cho Caltex). Toàn bộ quy trình sản xuất được thực hiện theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001: 2000. Trung tâm R&D của Công ty với trang thiết bị hiện đại vừa nghiên cứu phát triển, vừa sản xuất thực nghiệm, kiểm tra chất lượng sản phẩm, tham gia đào tạo và thực hiện tư vấn dịch vụ kỹ thuật miễn phí cho khách hàng.
Mỗi năm, APP sản xuất và tiêu thụ trên thị trường trong và ngoài nước hàng vạn tấn sản phẩm với trên 150 chủng loại khác nhau, cung cấp cho khoảng 400 khách hàng thuộc các ngành kinh tế quan trọng như: năng lượng, cơ khí - luyện kim, giao thông vận tải, công - nông nghiệp và quốc phòng. Nhiều sản phẩm của APP đạt mức chất lượng cao nhất theo phân loại của Viện Dầu mỏ Mỹ (API). Ngoài ra, APP còn pha chế các sản phẩm theo uỷ quyền của một số công ty nước ngoài. Doanh thu hàng năm của các sản phẩm mang thương hiệu APP đạt trên 100 tỷ đồng (mỗi cán bộ có doanh thu trên 750-800 triệu đồng/người/năm). Trong 10 năm hoạt động, APP đã nộp ngân sách nhà nước trên 56 tỷ đồng.
Ngoài việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học, APP còn tham gia đào tạo nghiên cứu sinh, hướng dẫn thực tập cho hàng trăm sinh viên, xuất bản tài liệu chuyên môn dùng cho các trường dạy nghề... hàng chục báo cáo khoa học đã được trình bày ở các hội nghị khoa học quốc tế. Năm 2000, thương hiệu APP đã được Tạp chí “Fuel - lubes Asia” giới thiệu là một trong 500 thương hiệu trong lĩnh vực dầu mỏ ở châu Á - Thái Bình Dương. Một số công trình nghiên cứu có giá trị về khoa học và kinh tế đã được nhận các giải thưởng cao: 3 Giải thưởng sáng tạo KH&CN Việt Nam VIFOTEC (2 giải nhất và 1 giải nhì ), Giải thưởng Nhà nước về KH&CN, Giải thưởng của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) và nhiều giải thưởng khác như: Giải thưởng Chất lượng Việt Nam, Giải thưởng Ngôi sao chất lượng, Chìa khoá vàng cho doanh nghiệp áp dụng xuất sắc Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO và nhiều huy chương cho các sản phẩm. Công ty còn được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì, hạng Ba, nhiều bằng khen của Chính phủ và các bộ/ngành.
Có thể khẳng định, trong 10 năm qua, APP là một trong những doanh nghiệp KH&CN đầu tiên ở nước ta hoạt động có hiệu quả trên tất cả các mặt. Kết quả đó bắt nguồn từ các nhân tố sau:
l Biết vận dụng những quy luật kinh tế vào hoạt động KH&CN, làm cho KH&CN gắn chặt với sản xuất. Đối với một đơn vị nghiên cứu ứng dụng, quan trọng nhất là phải đưa được các kết quả nghiên cứu vào sản xuất nhanh nhất, sản phẩm phải được thương mại hoá. Với tư cách là những giá trị sử dụng, kết quả nghiên cứu luôn bị hao mòn vô hình. Nếu kéo dài thời gian nghiên cứu hay thời gian đưa vào sản xuất cũng có nghĩa là giảm giá trị và giá trị sử dụng của kết quả nghiên cứu, làm cho hoạt động KH&CN kém hiệu quả.
l Cơ chế thị trường với sự cạnh tranh chính là môi trường tốt nhất để các nhà khoa học gắn với thị trường, tạo ra thương phẩm ở thời điểm có lợi nhuận cao nhất, tạo ra giá trị thặng dư để tái đầu tư phát triển. Sớm nhận thức được điều này, APP đã kiên trì thực hiện sự chuyển đổi phương thức hoạt động từ hành chính bao cấp sang cơ chế doanh nghiệp. Sự chuyển đổi này tuy gặp rất nhiều khó khăn nhưng hoạt động lại phù hợp với lộ trình cải cách của Nhà nước, nhanh chóng hội nhập và tiếp cận với cơ chế thị trường trong nền kinh tế chuyển đổi, đi từ quy mô nhỏ lên quy mô công nghiệp, như nhận xét của ông Jordan D. Ryan(2), nguyên Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam về APP: “Bước nhảy vọt từ sản xuất thực nghiệm đến thương mại”.
Tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng APP vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực còn ít. Vì thế, APP luôn xác định phải tiếp tục đổi mới để thích ứng với quá trình hội nhập kinh tế, đổi mới công nghệ sản xuất, tiếp cận phát triển lĩnh vực KH&CN tiên tiến, tạo lợi thế cạnh tranh, đa dạng hoá ngành nghề, thu hút các cổ đông tiềm năng, mở rộng quan hệ quốc tế, xây dựng nguồn lực và đổi mới công nghệ quản lý để tăng trưởng và đạt hiệu quả cao hơn, đủ sức thực hiện nhiệm vụ lớn hơn ở phía trước.
(1) PGS-TS Đỗ Huy Định nguyên là Viện trưởng Viện Hoá học Công nghiệp kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Phụ gia - Dầu mỏ thuộc Viện. Năm 1994, ông đã xin thôi chức Viện trưởng để cùng các đồng nghiệp của mình đề nghị Chính phủ cho chuyển Trung tâm sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.
(2) UNDP - Vietnam: The story of a 25 year Pastnership. Hanoi, Sept. 2003, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và UNDP xuất bản.
Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, số 08/2006








