Ảnh hưởng của vitamin C bổ sung vào khẩu phần đến khả năng sinh trưởng và chống stress nhiệt trong mùa hè của lợn ngoại (60 - 120 ngày tuổi)
1. Mở đầu
Ngày nay, chăn nuôi lợn đang phát triển với hình thức chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn, sử dụng hoàn toàn thức ăn hỗn hợp được cân đối đầy đủ các thành phần dinh dưỡng. Nhưng trong quá trình chế biến, vận chuyển, bảo quản thức ăn, do nhiều yếu tố tác động như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng làm cho một số thành phần dinh dưỡng trong thức ăn bị hao hụt hoặc mất đi, dẫn đến giảm hàm lượng so với tiêu chuẩn quy định ban đầu. Đặc biệt là vitamin C rất khó bảo quản, do chúng dễ bị oxy hoá, mất hoạt tính sinh học.
Đối với lợn sau cai sữa, khả năng tổng hợp vitamin C tăng dần, trong điều kiện nuôi dưỡng bình thường, có thể đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Tuy nhiên, về mùa khè, khi nhiệt độ chuồng nuôi tăng cao, stress nhiệt ở lợn ngoại là vấn đề thời sự được nhiều người quan tâm (Lê Văn Phước, 2006).
Dinh dưỡng vitamin C ở lợn vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, hơn nữa trong bảng tiêu chuẩn thức ăn cho lợn của Việt Nam , chưa có tiêu chuẩn về vitamin C, trong khi việc bổ sung vitamin C là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế chúng tôi tiến hành đề tài trên nhằm:
- Xác định vai trò của vitamin C tới khả năng sinh trưởng, chống stress nhiệt trong mùa hè, nâng cao sức đề kháng của lợn;
- Đánh giá tác dụng của việc bổ sung vitamin C đến khả năng chuyển hoá thức ăn và hiệu quả kinh tế khi bổ sung vitamin C vào khẩu phần nuôi lợn thịt…
2. Phương pháp
2.1 Đối tượng
Lợn thịt thương phẩm 5 máu ngoại (402 x C1230) 60 - 120 ngày tuổi nuôi tại trại giống lợn Tân Thái, huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo các nguyên tắc đồng đều về giống, số lượng, tuổi, tỷ lệ đực, cái, khối lượng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Cụ thể chọn 30 lợn con cai sữa phân làm 3 lô, mỗi lo 10 con.
Với hai lô thí nghiệm, thức ăn được trộn vitamin C (30 và 50 mg/kg thức ăn).
Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Minitab 13.0 và excel.
3. Kết quả và thảo luận
3.1 Ảnh hưởng của vitamin C tới khả năng sinh trưởng của lợn
Kết thúc 60 ngày thí nghiệm (120 ngày tuổi), khối lượng trung bình ở cả 3 lô thí nghiệm như sau: lô I đạt 54,65 – 0,68 kg, lô II đạt 54,06 - -,68 kg và lô đối chứng đạt 51,70 – 0,85 kg. Như vậy khi kết thúc thí nghiệm, lợn ở 2 lo thí nghiệm được bổ sung vitamin C đã đạt được khối lượng trung bình cao hơn lô đối chứng: Lô I cao hơn 2,95 kg tương ứng 5,7% (P < 0,05), lô II cao hơn 2,36 kg tương ứng 4,56% (P < 0,05).
Giai đoạn TN (ngày tuổi) | Lô ĐC (không bổ sung) | Lô I 30 mg/kg TA) | Lô II (50 mg/kg TA) |
60 -75 | 416,67 | 460,00 | 433,33 |
76 -90 | 570,00 | 660,00 | 656,00 |
91 -105 | 653,33 | 693,33 | 696,00 |
106 -120 | 720,00 | 750,00 | 748,67 |
60 -120 | 590,00 | 640,83 | 633,50 |
So sánh (%) | 100 | 108,59 | 107,37 |
Sinh trưởng tuyệt đối của lợn ở cả ba lô đều có xu hướng tăng dần qua các giai đoạn tuổi, điều đó phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia súc, gia cầm.
Vậy, có thể nói việc bổ sung vitamin C vào thức ăn cho lợn cho kết quả khả quan, vitamin C đã giúp cho lợn sinh trưởng tốt hơn, ≤ 120 ngày tuổi lợn cả 2 lô thí nghiệm được bổ sung vitamin C có khối lượng trung bình cao hơn lô đối chứng không được bổ sung. Kết quả trên phù hợp với nghiên cứu của Cromwell và ctv (1970), Brow và ctv (1975), Yen và Pond (1981), Chiang và ctv (1985), Nakano, T., F. và ctv (1983). Các tác giả này cũng kết luận tăng khối lượng cơ thể của lợn được cải thiện khi bổ sung vitamin C.
3.2 Ảnh hưởng của vitamin C tới khả năng chống stresss nhiệt trong mùa hè của lợn thí nghiệm
Một trong hai đặc điểm quan trọng của lợn ngoại là khả năng tích luỹ protein cao, quá trình này thải ra nhiệt năng lớn. Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với lợn ngoại trong mùa hè là làm thế nào để chống nóng, giảm stress nhiệt, đảm bảo lợn sinh trưởng và phát triển tốt. Để đánh giá ảnh hưởng của vitamin C tới khả năng chống stress nhiệt trong mùa hè của lợn thí nghiệm, chúng tôi xác định một số chỉ tiêu sinh lý như: tần số hô hấp, nhịp tim, nhiệt độ cơ thể, nhiệt độ chuồng nuôi. Kết quả thu được thể hiện qua bảng 2.
Ở cả 3 thời điểm 7h, 13h và 17h chúng tôi đo nhiệt độ cơ thể, nhịp tim của lợn ở cả 3 lô, nhận thấy ít có sự sai khác. Riêng tấn ố hô hấp, nhận thấy có sai khác rõ rệt, 2 lô thí nghiệm được bổ sung vitamin C đều có tần số hô hấp thấp hơn so với lô đối chứng, đặc biệt là lúc 13h khi nhiệt độ trong ngày tăng cao (P < 0,05). Điều này chứng tỏ vào buổi trưa khi nhiệt độ huồng nuôi tăng cao thì tần số hô hấp của cả 3 lô có sai khác rõ rệt, vitamin C đã có ảnh hưởng tốt trong việc nâng cao sức đề kháng.
Bảng 2. Ảnh hưởng của vitamin C tới khả năng chống stress nhiệt trong mùa hè của lợn thí nghiệm
Lô | thời điểm theo dõi | Nhiệt độ chuồng nuôi ( 0C) | Nhịp tim (lần/ phút) | Tần số hô hấp (lần/ phút) | Nhiệt độ cơ thể ( 0C) |
Lô ĐC | 7h | 27,10 ± 0,32 | 119,20 ± 0,73 | 59,00 ± 1,954 | 39,34 ± 0,07 |
13h | 35,20 ± 0,30 | 122,10 ± 0,67 | 107,90 ± 1,75 | 39,56 ± 0,05 | |
17h | 31,30 ± 0,49 | 121,10 ± 0,61 | 86,05 ± 2,42 | 39,41 ± 0,07 | |
Lô I | 7h | 27,10 ± 0,32 | 118,80 ± 0,62 | 58,15 ± 1,49 | 39,38 ± 0,06 |
13h | 35,20 ± 0,30 | 121,30 ± 0,67 | 101,60 ± 2,55 | 39,38 ± 0,06 | |
17h | 31,30 ± 0,49 | 120,70 ± 0,72 | 85,37 ± 2,51 | 39,42 ± 0,05 | |
Lô II | 7h | 27,10 ± 0,32 | 119,10 ± 0,80 | 57,78 ± 1,79 | 39,35 ± 0,06 |
13h | 35,20 ± 0,30 | 121,00 ± 0,65 | 101,55 b± 2,27 | 39,53 ± 0,05 | |
17h | 31,30 ± 0,49 | 120,40 ± 0,62 | 85,25 ± 2,79 | 39,47 ± 0,07 |
Ghi chú: theo hàng dọc trong cùng một chỉ tiêu, những số mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê với P < 0,05
Từ kết quả phân tích trên, có thể nói khi nhiệt độ chuồng nuôi càng tăng cao thì ảnh hưởng của vitamin C tới khả năng chống stress nhiệt càng được thể hiện rõ. Vitamin C đã có ảnh hưởng tốt trong việc nâng cao sức đề kháng giảm stress nhiệt, giúp lợn thu nhận, chuyển hoá thức ăn tốt hơn, đặc biệt là những ngày nhiệt độ chuồng nuôi tăng cao, từ đó giúp lợn sinh trưởng tốt.
3.3 Ảnh hưởng của vitamin C đến khả năng đề kháng một số bệnh của lợn thí nghiệm
Khi bổ sung vitamin C vào khẩu phần cho lợn, đã phần nào đem lại hiệu quả trong việc nâng cao sức đề kháng của lợn đối với một số bệnh. Ở 2 lô được bổ sung vitamin C có tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy và đường hô hấp thấp hơn so với lô đối chứng. Kết luận này một lần nữa khẳng định vai trò sinh học của vitamin C trong chức năng tăng sức đề kháng, chống nhiễm trùng, nhiễm độc, chống cảm cúm và chống các stress.
3.4 Ảnh hưởng của vitamin C đến khả năng chuyển hoá thức ăn/ kg tăng khối lượng
3.4.1 Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng
Bảng 3 cho thấy tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng có xu hướng tăng dần theo tuổi, điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia súc.
Bảng 3. Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng qua các giai đoạn tuổi
Giai đoạn tuổi (ngày) | Lô ĐC | Lô I | Lô II |
60 -75 | 2,16 | 2,03 | 2,08 |
76 -90 | 2,36 | 2,32 | 2,34 |
91 -105 | 2,67 | 2,60 | 2,59 |
106 -120 | 2,94 | 2,76 | 2,76 |
60 -120 | 2,61 | 2,47 | 2,48 |
Bình quân tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng giai đoạn 60 - 120 ngày tuổi ở lô II là 2,47; ở lô II là 2,48 và ở lô đối chứng là 2,61kg. Như vậy tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng ở lô I thấp hơn đối chứng là 0,14kg thức ăn (giảm 5,66%), ở lô II thấp hơn lô đối chứng là 0,13 kg thức ăn (giảm 5,24%), chứng tỏ vitamin C đã có ảnh hưởng đến sinh trưởng và khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn, làm cho lợn sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng ít hơn. Điều này rất có lợi cho nhà chăn nuôi, nó làm cho chi phí thức ăn trên 1kg tăng khối lượng thấp, đồng nghĩa với việc lợi nhuận được tăng lên.
3.4.2 Tiêu tốn năng lượng trao đổi và protein/ kg tăng khối lượng
Kết quả theo dõi tiêu tốn protein và năng lượng/ kg khối lượng được chúng tôi trình bày qua Bảng 4.
Bảng 4. Tiêu tốn năng lượng trao đổi và protein/ kg tăng khối lượng
Lô ĐC | Lô I | Lô II | ||||
Ngày tuổi | ME (Kcal) | Protein (g) | ME (Kcal) | Protein (g) | ME (Kcal) | Protein (g) |
60 -75 | 6470 | 364 | 6087 | 345 | 6231 | 353 |
76 -90 | 7085 | 391 | 6970 | 383 | 7012 | 374 |
91 -105 | 8020 | 401 | 7788 | 389 | 7759 | 388 |
106 -120 | 8833 | 442 | 8267 | 413 | 8181 | 414 |
60 -120 | 7763 | 405 | 7412 | 387 | 7436 | 385 |
Bình quân tiêu tốn protein/ kg tăng khối lượng giai đoạn 60 – 120 ngày tuổi ở lô I là 387g, lô II là 385g và lô đối chứng là 402g. Vậy hai lô được bổ sung vitamin C có mức tiêu tốn protein/ kg tăng khối lượng thấp hơn so với lô đối chứng, ở lô I thấp hơn 15g, giảm 3,73%, ở lô II thấp hơn 17g, giảm 4,22%.
Đối với năng lượng: bình quân tiêu tốn năng lượng trao đổi/kg tăng khối lượng giai đoạn 60 -120 ngày tuổi ở lô I là 7412 Kcal, lô II là 7436 Kcal và lô đối chứng là 7763 Kcal. Vậy hai lô được bổ sung vitamin C có mức tiêu tốn năng lượng trao đổi/ kg tăng khối lượng thấp hơn so với lô đối chứng, ở lô I thấp hơn 351 Kcal (giảm 4,527%), ở lô II thấp hơn 327 Kcal (giảm 4,21%).
Từ phân tích trên, một lần nữa chứng tỏ vitamin C đã có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn ở lợn.
4. Kết luận
Với thức ăn hỗn hợp có hàm lượng vitamin C thấp để chăn nuôi lợn thịt giống ngoại, mức bổ sung 30mg và 50mg vitamin C đều cho kết quả tăng khối lượng cơ thể tốt, giảm chi phí thức ăn và chống stress nhiệt, tăng sức đề kháng hơn so với đối chứng. Song vitamin C ở mức 30 mg/kg thức ăn cho kết quả tốt hơn so với mức 50 mg/kg thức ăn, tuy sự sai khác này chưa rõ rệt.
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Hữu Đoàn (2004). Bổ sung vitamin C nâng cao năng suất gia cầm,Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.
2. Lê Văn Phước (2006). Ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến chỉ tiêu sinh lý và sức sản xuất của lợn nuôi thịt ở miền Trung,Luận án tiến sĩ Nông nghiệp.
3. Brown, R. G, J. G. Buchanan - Sminh, and V. D. Sharman (1975). Ascorbic acid metabolism in swine. The effectss of frequency of feeding and level of supplementary ascorbic acid on swine fed various energy levels. Can J. Anim. Sci. 55: 353 – 358.
4. Cleveland, E. R, G. L. Newton, B. G. Mullinix, O. M. Hale, and T. M Frye (1983). Food - leg and performance traits of boars fed two levels of ascorbic acid. J. Anim. Sci. 57 (suppl.l): 387 (Abstr.).
5. Chiang, S.H., J. E. Pettigrew, R. L. Moser, S. G. Cornelius, K. P. Miller, and T. R. Heeg (1985). Supplemental vitamin C in swine diets Nutr. Rep. Int. 31: 573 - 581.
6. Cromwell, G. L., V. W. Hays and J. R. Overfield (1970). Effect of dietary ascorbic acid on performance and plasma cholesterol levels of growing swine. J. Anim. Sci. 31: 63 - 66.
7. Nakano, T., F. X. Aherne, and J. R. Thompson (1983). Effect of dietary supplementation of vitamin C on pig performance and the incidence of osteochondrosis in elbrow and stifle joints in young growning swine. Can. J. Anim. Sci. 63: 421 - 428.
8. Yen, J. T., and W. G. Pond (1981). Effect of dietary vitamin C addition on performance, plasma vitamin C and hermatic iron status in weanning pig. J. Anim. Sci. 53: 1292 - 1296.








