Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/03/2009 16:22 (GMT+7)

Ảnh hưởng của điều kiện mặt bằng, giao thông đến quá trình triển khai thi công hệ thống tàu điện ngầm tại Việt Nam

Xây dựng nói chung và xây dựng công trình ngầm nói riêng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thi công, đặc biệt là thi công trong khu vực nội đô. Ở đây, trong phạm vi giới hạn của bài viết, tác giả chỉ đề cập đến một số yếu tố ảnh hưởng là mặt bằng và điều kiện giao thông khu vực thi công hiện nay tại TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

1. Thực trạng giao thông tại các đô thị lớn tại Việt Nam

Tốc độ tăng dân số tại các đô thị lớn của Việt Nam trong những năm gần đây rất nhanh (bao gồm tăng dân số cơ học do người dân ở các vùng quê lên thành phố kiếm việc làm, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, cán bộ công nhân các cơ quan xí nghiệp...), quy hoạch giao thông đô thị thiếu đồng bộ và lạc hậu, sự gia tăng nhanh các phương tiện giao thông cá nhân trong khi khả năng đáp ứng của các phương tiện giao thông công cộng rất hạn chế, ý thức tham gia giao thông của người dân chưa cao. Các yếu tố trên là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông xảy ra hàng ngày tại các đô thị lớn của Việt Nam, nhất là vào các giờ cao điểm và tại các trục phố chính, các nút giao thông khu vực trung tâm thành phố. Các cơ quan quản lý của Nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm cải thiện tình trạng trên nhưng hiệu quả đạt được không đáng kể so với nhu cầu thực tế.

Theo các hình ảnh trên ta nhận thấy các đường phố chật hẹp, đông đúc, có nhiều loại phương tiện cùng tham gia giao thông. Ngoài ra có thể thấy ý thức tham gia giao thông của người dân chưa cao, các phương tiện thường đi không đúng làn đường của mình, các xe buýt lớn dễ cản trở giao thông do chiếm nhiều diện tích. Nhiều hộ dân còn chiếm dụng lòng, lề đường làm nơi kinh doanh nên cản trở giao thông, các điểm giao cắt tập trung chưa có các cầu, hầm vượt cho người đi bộ. Do đó, hiện tượng giao thông tắc nghẽn tại các giờ cao điểm là chuyên xảy ra bình thường hàng ngày đối với ngừơi dân TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh

2. Điều kiện mặt bằng xây dựng

Đường Giảng Võ
Đường Giảng Võ
Sau khi có chính sách mở cửa kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường, nước ta đã có bước nhảy vọt, thể hiện trên nhiều lĩnh vực, nhiều khu vực, đời sốngcủa người dân được thay đổi từng ngày. Cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của cả nước, bộ mặt đô thị tại hai thành phố lớn như TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cũng thay đổi với sức năng động của lớptrẻ. Trước đây dân cư thủ đô chủ yếu tập trung sinh sống và buôn bán trong khu vực 36 phố cổ. Sau chiến tranh dân số tăng nhanh, nhất là từ khi đổi mới (năm 1986) nền kinh tế nước ta phát triển rấtnhanh đồng thời dẫn đến tốc độ đô thị hoá ngày càng cao, dân cư từ các địa phương kéo về thành phố kiếm việc làm ngày càng đông nên nhu cầu về nhà ở ngày càng lớn. Do trình độ quản lý, tầm nhìn chiếnlược về vấn đề quy hoạch đô thị của chúng ta còn rất hạn chế, không theo kịp tốc độ đô thị hoá diễn ra hàng ngày nên chúng ta không kiểm soát tốt được quy hoạch kiến trúc các công trình xây dựng dândụng, các công trình giao thông. Hậu quả là hiện nay khu vực trung tâm thành phố trở nên chật chội, đường phố chật hẹp, nhà ở lộn xộn với nhiều hình dạng và kích thước phi khoa học, thiếu khu vuichơi giải trí... Như vậy, khi triển khai thi công các công trình xây dựNg, nhất là các công trình có quy mô lớn đòi hỏi có mặt bằng thi công rộng thì nhà thầu sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

3. Các phương pháp thi công đường tàu điện ngầm và mức độ ảnh hưởng của điều kiện mặt bằng, giao thông đối với các phương pháp thi công.

Đường Cát Linh
Đường Cát Linh
Có rất nhiều phương pháp thi công công trình ngầm khác nhau, tuy nhiên có thể phân các phương pháp thi công công trình thành 2 nhóm chính dựa theo công nghệ thi công:

- Nhóm các phương pháp thi công lộ thiên(phương pháp tường - nền, phương pháp tường - nóc, phương pháp hạ dần, phương pháp hạ chìm).

- Nhóm các phương pháp thi công ngầm -phương pháp mỏ (phương pháp khoan nổ mìn, phương pháp đo bằng máy).

Đối với các phương pháp thi công lộ thiên toàn bộ hay một bộ phận, kết cấu của công trình ngầm được thi công lắp dựng trên mặt đất, còn đối với các phương pháp thi công ngầm thì toàn bộ kết cấu công trình ngầm được thi công lắp dựng trong lòng đất.

Như vậy, mức độ ảnh hưởng của điều kiện mặt bằng xây dựng và điều kiện giao thông đối với quá trình thi công tàu điện ngầm phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn phương pháp thi công. Có thể nói mức độ ảnh hưởng trên không đáng kể đối với phương pháp thi công ngầm, nhưng ngược lại nó ảnh hưởng rất lớn khi thi công bằng phương pháp lộ thiên.

Việc lựa chọn phương pháp thi công cho đường tàu điện ngầm phụ thuộc vào chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật, trong đó có xét đến các yếu tố về điều kiện địa chất, chiều dài tuyến, độ sâu đặt công trình, hình dạng và kích thước công trình, quy hoạch các công trình kiến trúc trên mặt đất... Do có lợi thế về mặt kinh tế nên chắc chắn sẽ có nhiều tuyến hầm được thi công bằng phương pháp lộ thiên, khi đó vấn đề mặt bằng xây dựng và tình trạng giao thông cần được khảo sát và nghiên cứu kỹ trước khi triển khai thi công.

4. Đánh giá mức độ ảnh hưởng và biện pháp hạn chế sự ảnh hưởng của điều kiện mặt bằng thi công và tình trạng giao thông

Đường Nguyễn Lương Bằng
Đường Nguyễn Lương Bằng
Với tình trạng giao thông như nêu ở trên, khả năng có được giấy phép lưu thông vào ban ngày cho các phương tiện vận chuyển đẩt đá thải hay vật liệu xây dựng là vô cùng khó khăn, nhất là vàocác giờ cao điểm, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thi công công trình, tình trạng úng ngập thường xuyên vào mùa mưa tại một số tuyến phố cũng có thể ảnh hưởng đến thi công (gây ngập hốđào; hạn chế khả năng bơm thoát nước ngầm, nước mặt; tăng khả năng tắc nghẽn giao thông...).

Mặt bằng thi công chật hẹp như vậy nên diện tích dành cho lưu trữ, tập kết máy móc, nguyên vật liệu sẽ rất hạn chế. Việc phải tập kết vật liệu ở các bãi ở ngoại ô xa công trường là điều tất nhiên. Máy móc thi công có phạm vi hoạt động hạn chế cả về không gian và thời gian. Vì vậy, đây cũng là bài toán kinh tế cho các đơn vị tham gia thi công công trình.

Các giải pháp cần được xem xét và áp dụng:

Ảnh chụp thành phố Hà Nội từ vệ tinh
Ảnh chụp thành phố Hà Nội từ vệ tinh
- Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức phân làn, phân luồng giao thông hợp lý

- Tăng cường thi công vào giờ có lưu lượng xe ít

- Tranh thủ vận chuyển vật liệu và đất đá thải vào ban đêm

- Lập biện pháp tổ chức thi công hợp lý, ưu tiên thi công trước các điểm dễ gây ùn tắc

- Có kế hoạch chuẩn bị vật liệu phù hợp với từng gia đoạn thi công

- Bố trí và sắp xếp máy móc, kho bãi hợp lý để tiết kiệm mặt bằng thi công

Kết luận

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ và giá thành xây dựng công trình. Tuy nhiên trong các đô thị đông đúc và chật hẹp, điều kiện mặt bằng, điều kiện giao thông có ảnh hưởng rất lớn, đặc biệt đối với việc thi công các công trình ngầm bằng phương pháp lộ thiên. Khi thiết kế và triển khai xây dựng, các yếu tố trên cần phải được khảo sát và xem xét kỹ lưỡng để có thể đưa ra các giải pháp thiết kế, các biện pháp thi công hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, hạn chế tác động xấu đến các vấn đề xã hội.

__________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Quang Phích, Võ Trọng Hùng và các cộng sự - Nghiên cứu xây dựng luận chứng khả thi các công trình ngầm trong quy hoạch mạng lưới giao thông ở Hà Nội, Hà Nội 1998.

2. Vũ Minh Tuấn, Nghiên cứu lựa chọn công nghệ thi công hợp lý đoạn đường tàu điện ngầm từ khách sạn Daewoo đến ga Hà Nội, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ kỹ thuật, Hà Nội – 2008.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.